Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Nhận Định Trung Thực của một Tác Giả Mỹ
về Cuộc Chiến Việt
Nam


 

Lời mở đầu: Tháng Tám năm vừa qua, lần đầu tiên kể từ ngày Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam một tổng thống Mỹ đã nhìn nhận rằng vì Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam mà hàng trăm ngàn người Việt phải đi tù cải tạo và mấy triệu người phải bỏ nước ra đi, trong số này hàng trăm ngàn người chết trên con đường đi tìm tự do. Một số chính trị gia, sử gia và tác giả Hoa Kỳ như John Kerry, Joseph Biden, Robert Dallek, Stanley Karnow, Steven Simon v..v.. đã lên tiếng chỉ trích Tổng Thống Bush vì lời tuyên bố trung thực của ông về Chiến tranh Việt Nam. Kể từ sau 1975 nhiều tác giả Mỹ viết về Chiến tranh Việt Nam đã bóp méo sự thật. Andrew Bacevich viết rằng “cuộc chiến đó chỉ là một cuộc nội chiến và thực tế không có một quốc gia tại Miền Nam Việt Nam.” Jonathan Schell cho rằng “đó chỉ là một cuộc nổi dậy của dân chúng ở miền Nam” (chứ không phải là một cuộc xâm lăng của miền Bắc). Marilyn B. Young cho rằng “tự nhiên quân linh Mỹ nhẩy vào để tàn sát những dân lành (vụ Mỹ Lai) và Peter Marin nói rằng chiến binh Hoa Kỳ cảm thấy họ là những kẻ phạm tội nên thấy hối hận. vân vân..Nhưng gần đây có một số sử gia thuốc lớp người mới đã đi tìm sự thật và họ đã  nói lên sự thật. Đối với họ, những quan điẻm trên đã là sự dối trá nhằm lừa phỉnh dân chúng Mỹ cả trong lúc đang có cuộc chiến lẫn sau khi cuộc chiến đã chấm dứt. Trong số những tác giả muốn nhìn cuộc chiến Việt Nam một cách trung thực có Arthur Herman, người mới đây đã viết bài “Who owns the Vietnam War?” (Cuộc Chiến Việt Nam thuộc vể ai?) đăng trong Tạp Chí Commentary Magazine số phát hành tháng 12 năm 2007 (http://www.commentarymagazine.com/viewarticle.cfm/Who-Owns-the-Vietnam-War--11006 .)

 

Ít khi nào chúng ta được đọc một bài của một tác giả người Mỹ viết trung thực vể cuộc chiến tại Việt Nam. Chính vì vậy mà bài  “Who Owns the Vietnam War?” được coi như là một trong một số ít ngoại lệ làm chúng ta thấy hân hoan. Quan điểm của tác giả Arthur Herman là quan điểm của người Việt quốc gia chúng ta, nghịch lại với quan điểm  gian dối của Công Sản Hà Nội. Quan điểm của ông Arthur Herman cho rằng chúng ta mất nước không phải vì chúng ta yếu kém và quân Cộng Sản mạnh, mà chính vì Mỹ đã bỏ rơi chúng ta. Mỹ đã không còn cần đến một tiền đồn để ngăn chặn bước tiến của Cộng Sản nữa vì đã đi đêm với Bắc Kinh. Mỹ đã phản bội chúng ta vì ngay cả khi Cộng Sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Ước Ba Lê mà chúng đã ký kết, ào ạt đem quân xâm chiếm Miền Nam, ngay cả khi Miền Nam lâm nguy, Mỹ vẫn quay mặt làm ngơ mặc dù trong Hiệp Định Ba Lê Hoa Kỳ đã nói rằng nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định thì Quân Mỹ sẽ liền can thiệp. Ức vì thái độ giả dối của những học giả và nhà báo Mỹ, chúng ta, những phải người sống lưu vong trên đất nước này, đã không có cách nào phàn ứng. Nay xu hướng mới của những học giả người Mỹ viết trung thực về Chiến Tranh Việt Nam đã là một biến chuyển tốt đẹp cho tất cả chúng ta khi nhìn lại lịch sử gần đây của nước mình.
Phần dưới đây chỉ tóm lược những quan điểm của tác giả Arthur Herman liên quan đến tình hình an ninh của Nam Việt Nam trước 1973, tình thần chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Gỉai Phóng và lực lượng Bắc Viết chiến đấu ở Miền Nam, và về sự tung hoành của báo chí Mỹ bóp méo sự thật làm cho dân chúng Mỹ xuống tinh thần và chính phủ Hoa Kỳ không còn biết hành động ra sao.
1. Theo tác giả, tình hình tại Miền Nam trước ngày Hiệp Định Paris được ký kết không suy xụp như người Mỹ trình bầy. Trái lại nếu có trợ lực của Hoa Kỳ thì quân lực VNCH có dư khả năng để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ông giải thích rằng dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đỉnh Diệm đã bình định được nông thôn và nông dân đã chống lại sự nổi dậy mà Miền Bắc xúi dục và hỗ trợ cả về mặt tài chính lẫn vũ khí. Mark Moyar, một học giả về Việt Nam, mới đây đã chứng minh rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm không phải là một nhà lãnh đạo bất tài như những nhà truyền thông và sử gia Mỹ vu cáo và vào những ngày tháng trước khi ông bị ám sát, cuộc chiến đã bất lợi cho phe Việt Cộng. Lỗi lầm duy nhất của ông là đã không đối phó được với báo chí Mỹ và sau khi ông chết thì tình hình miền Nam suy xụp nhanh chóng làm cho H.J. Kaplan, một sĩ quan  thuộc Cơ Quan Ngọai Giao Hoa Kỳ, khi đến Việt Nam vào tháng Giêng năm 1965, tuyên bố rằng ông đã “bị kinh hoàng khi thấy Cộng Sản kiểm soát phần lớn nông thôn Miền Nam.” Nhưng chỉ một năm sau đó, khi Mỹ đã bắt đầu đổ quân vào Việt Nam và Bắc Việt cũng đã đưa hàng chục ngàn binh lính vào Nam, thì tình hình đã khác hẳn và đến đầu năm 1967 thì Tướng Earl Wheeler đã tuyên bố: “có thể có một cuộc chiến thắng nếu chúng ta tiếp tục làm áp lực đối với miền Bắc.”
Theo lời của ông Lewis Sorley tác giả cuốn sách mang tựa đề “Một Cuộc Chiến Tốt Đẹp Hơn (A Better War)” sở dĩ cuộc tổng tấn công năm Mậu Thân  của Cộng Sản đã thất bại là vì dân chúng  ở Miền nam đã không ủng hộ Việt Cộng và sau đó thì họ đã tỏ vể càng không theo Cộng Sản. Luật về ruộng đất của chính phủ sở hữu hóa đất cho người đi cầy, chính vì vậy mả người dân ở nông thôn phấn khởi hơn. Đến năm 1973, hơn 70% tá đièn đã làm chủ mảnh đất mình canh tác. Và theo nhận xét của ông Phillip B. Davidson trong cuốn “Việt Nam Trong Chiến Tranh” (Vietnam at War), sau vụ thất bại chua cay vào Tết Mậu Thân, quân Cộng Sản Bắc Việt đã bị tiêu diệt tới độ Tướng Giáp xuống tinh thần và quyết định phải giảm bớt các họat động quân sự trong vài năm để phục hồi quân số. Bắc Việt đã trông mong rẳng dân chúng ở Miền Nam sẽ nổi dậy ủng hộ Việt Cộng nhưng đã vỡ lẽ ra rằng không có chuyện đó. Đến cuối năm 1969, chính quyền của tướng Thiệu đã lại kiểm soát được 70% nông thôn. Chiến tranh khi đó chỉ còn diễn ra ở vùng cao nguyên mặc dù trong thời gian này quân Mỹ đã rút hết 50% quân số của họ. Sau khi cuộc tổng tấn công của Cộng Sản vào tháng Tư năm 1972 thất bại, Tướng Võ Nguyên Giáp mất chức tổng tư lệnh quân đội nhân dân, Hà Nội đành ngồi vào bàn hội nghị để đàm phán và đã phải thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa. Nixon đã có thể nghĩ đến việc rút quân vì Miền Nam đã có đủ khả năng tự bào vệ. Lewis Sorley, một học gỉa Mỹ đã viết vể tình hình Mièn Nam khi đó: “Phần lớn vùng nông thôn đã được bình định thành thử ra danh từ “bình định hóa” không còn được nói tới nữa.”
Nhưng Hòa đàm Paris đã cho phép Bắc Việt duy trì 160,000 quân lính tại Miền Nam và Hà Nội lại bắt đầu gây rối. Kissinger đề nghị tái oanh tạc Bắc Việt nhưng Nixon đã lờ đi. Trong khi đó Bắc Việt được cả Liên Sô lẫn Trung Cộng giúp tái xây dựng lực lượng quân sự của họ. Chính Kissinger đã nói với Tổng Thống Thiệu: “Quả thật tại Hoa Kỳ cả báo chí, các giới truyền thông, và giới trí thức, vì quyền lợi của họ, đều muốn ông thua trận.”

2. Về khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Arthur Herman dẫn chứng lời tuyên bố của Ông Robert Thompson, một chuyên gia chống nổi dậy (counterinsurgency) người Anh khi ông thăm viếng Nam Việt Nam vào năm 1974: “Người Việt Nam có tinh thần nhẫn nại, can đảm, cương quyết và chịu đựng… Họ đã chiến thắng được những cơn nguy khốn trên cả phương diện quốc gia lẫn cá nhân, một điều mà đa số những dân tộc khác không làm được.”
Theo ông Arthur Herman, với chiến dịch Lam Sơn, “hơn 50,000 quân Việt Nam Cộng Hòa đã cho thấy sự hữu hiệu của họ trong chiến đấu để bảo vệ tự do cho quê hương họ: họ tự bay trực thăng của họ, tự điểu khiển trọng pháo và xe tăng, và tự thực hiện ngay cả những vụ oanh tạc.” Và vào ngày 23 tháng 4 năm 1975, một lực lượng nhỏ bé hơn lực lượng quân Bắc Việt gấp bội đã anh dũng chiến đấu tại Xuân Lộc. Trong khi đó thì Tổng Thống Ford lại tuyên bố: “Hoa Kỳ không thể trở lại cuộc chiến vì đối với Hoa Kỳ nó đã chấm dứt rồi.” Đối với người dân Miền Nam, đó là dâu hiệu đen tối sẽ đến với đất nước họ.” Ông viết: “Nam Viêt Nam đã trải qua nhiều chính phủ bất ổn, nhất là sau cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên với thời gian, chế độ Miền Nam, mà nhiều người (Mỹ) coi là giả tạo và thối nát, đã thành công trong việc biến Miền Nam thành một quốc gia không thua gì Nam Cao Ly, với một lực lượng quân đội do Hoa Kỳ huấn luyện. Đến năm 1972, Nam Việt Nam có một lực lượng quân đội và dân quân địa phương đủ mạnh để có thể, nêú có sự trợ giúp của không lực Mỹ, tự mình chống lại cả những cuộc tấn công lớn của Bắc Việt.”

3. Ngược lại với quan điểm sai lầm của một số tác giả như G. M. Kahn, John W. Lewis và Frances Fitzgerald, ông Arthur Herman xác định rằng chính những lực lượng Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam và MTGPMN chỉ là công cụ của Hà Nội mà thôi, chứ không hề có chuyện dân chúng Miền Nam tự động nổi dậy. Ông nói rằng những cuộc nghiên cứu của các sử gia chân chính, kể cả sử gia của chính đảng Cộng sản Việt Nam viết sau 1975, đã xác định rằng từ năm 1964 Hà Nội đã đưa nguyên những lực lượng chiến đấu chính quy vào Nam và chính vì thế mà vào năm 1965 Tổng Thống Johnson đành đưa quân Mỹ vào.  Đền giữa năm 1968 trên 70% những lực lượng chiến đấu tại Nam Việt Nam là quân Bắc Việt mặc quần áo đen để giả dạng là những quân thuộc lực lượng Mặt Trận Giải Phóng và những quân Công Sản xâm lăng đó cũng chỉ là những đám quân ngoại quốc không khác gì quân Mỹ. Ngược lại với một tác giả Mỹ nói rằng những tên Việt Cộng đó “đì đứng ngon lảnh như cá bơi trong hổ nước”, chúng cũng bỡ ngỡ không biết đường đi lối bước và phải có những tên Việt Cộng ở địa phương dẫn đường. Ông chỉ trích những nhà làm những loại phim như Platoon (1986) và Casualties of War (1989) đã đưa ra hình ảnh những tên Việt Cộng bận đồ đen chiến đấu bằng những khẩu súng có từ thời Đệ Nhị Thế Chiến trong khi thực sự quân cộng sản là những lực lượng chính quy có đầy đủ vũ khí tối tân nhất có thể đối đầu với quân Mỹ như trong phim We Were Soldiers (2002). Chỉ riêng trong cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân quân chính qui Bắc Việt đã thiệt hại 33,000 quân tức là 20% toàn thể lực lượng của chúng.
Tác giả nói rằng quân Bắc Việt chỉ có hai lợi điểm: thứ nhất là chúng có những sào huyệt ở Căm Bốt và Lào, nơi chúng rút về để bổ túc quân số và súng đạn và thứ hai là chúng có toàn quyền khủng bố dân chúng buộc họ phải tiếp tế thực phẩm và che dấu chúng. Hơn nữa họ một lợi thế là việc dân chúng Mỹ đã chán nản và muốn cuộc chiến chấm dứt. Ông viết: “Trong khi dân chúng Mỹ lên án vụ Mỹ Lai thì không ai biết đến những vụ Cộng Sản sát hại người dân.Chính vì Vụ Mỹ Lai mả dân chúng Mỹ đã chống lại chiến tranh Việt Nam hơn trước và Cộng Sản Hà Nội đã biết lợi dụng sự thể này và từ một thế yếu chúng đã bước được sang một thế mạnh.”

4. Một điều khác mà ông Arthur Herman xác định là sự bất lực của chính phủ Hoa Kỳ trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Từ Tổng Thống Johnson đến Nixon và Ford đều tỏ ra thiếu cương quyết và ngày càng bị ảnh hưởng bởi những quyết định của một quốc hội dân chủ không tán thành cuộc chiến Việt Nam. Cả dân chúng lẫn Quốc Hội Mỹ đều đã nghe theo những báo cáo sai lạc mà bọn nhà báo và truyền thông Mỹ cố ý tạo nên. Những cuộc chiến thắng đã bị bóp méo thành những cuộc thất bại. Chiến thắng Khe Sanh đã biến thành cuộc thảm bại giống như trận Điện Biên Phủ đối với quân đội Pháp. Chiến thắng Mậu Thân, mà mới đây chính tờ New York Times phải công nhận, đã bị báo chí và Truyền thông Mỹ loan truyền như là một thất bại đau đớn của quân đội Mỹ. Hành động của báo chí Mỹ đã có ảnh hưởng tai hại đến tinh thần của Chính phủ Mỹ và Hà nội đã lợi dụng tình thế bất lợi này. Mark Woodruff, trong cuốn sách tựa đề “Một cuộc Chiến Thắng không được Tiếp đón Nồng hậu: Sự Thất Bại của bọn Việt Cộng và của quân đội Bắc Việt (Unheralded Victory: The Defeat of the Vietcong and North Vietnamese Army).” đã viết rằng Hà Nội gia tăng hướng nỗ lực về phía truyền thông Mỹ và phong trào chống chiến tranh và chúng coi những tổn thất của quân Mỹ như là mục tiêu chính đề tuyên truyền. Kể từ năm 1969 truyền thông Mỹ thay vì nói về chiến sự chuyển sang nói về những vụ tai tiếng do binh lính Mỹ gây ra, một điều gây nhiều xúc động cho dân chúng tại Mỹ. Tháng ba năm 69, người sản xuất chương trình tại ABC News đã ra chỉ thị cho văn phòng ABC tại Saigon: “ Tôi nghĩ chúng ta nên đặt trọng tâm vào những đề tài và những chuyện mang đầu đề ‘Chúng ta trên đường rút quân ra khỏi Việt Nam’ ”. Những chuyện như cuộc tàn sát ở Mỹ Lai, chuyên John Kerry nói ông là nhân chứng của những vụ đốt nhà dân, hãm hiếp phụ nữ, sẻo tai, v…v. Nhưng đến khi quốc hội điều tra thì không ai chịu ra điều trần. Những chuyện bịa đặt như chuyện Trung Tá Anthony Herbert kêu rằng ông bị xa thải vì đã tố cáo những tội ác chiến tranh, chuyện Kenneth B. Osborn tố cáo những cảnh dã man trong chiến dịch Phượng Hoàng để rồi bị lộ tẩy rằng ông không hề tham gia chiến dịch này. Chuyện Trung Úy Francis Reitenmeyer tuyên bố rằng ông được ra lệnh phải giết 50 người mỗi ngày để rồi bị khám phá ra rằng ông chưa bao giờ chiến đấu ở Việt Nam. Những chuyện bịa đặt nhưng giật gân nói trên ảnh hưởng đến sự quyết tâm của các tổng thống Mỹ và cuộc chiến chống Cộng Sản Hà Nội trở thành nửa vời, khó dứt điểm. Arthur Herman nói rằng khi ông Nixon thuộc đảng Cộng Hòa lên làm tổng thống, người ta đã trông mong rằng ông quyết tâm hơn và sẽ đưa Mỹ đến một cuộc chiến thắng nhưng hóa ra ông cũng chỉ là người được bầu lên để thực hiện cuộc rút hết quân ra khỏi Việt Nam mà thôi.

Kết Luận: Ngoài ra, Arthur Herman còn nói đến một số vấn đề liên quan đến quân đội Mỹ chiến đấu tại Việt Nam. Vì những vấn đề đó không dính líu đến chúng ta nên bài này không đề cập đến.

Hướng Dương
Ngày 5 tháng Giêng năm 2008

 

 

Trở lại Đầu Trang