Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Đi Tìm Con
Truyện Ngắn Dị Thường của Hướng Dương txđ



Trời tối đen như mực. Những giọt mưa rơi lất phất làm cho con đường đất trở nên trơn trượt. Tiếng gió hú qua những cành cây, tiếng lao xao của những cành lá trao qua trao lại, tiếng ễnh ương dội lại từ xa tạo nên một khung cảnh thật ghê rợn. Hoàng lầm lũi loạng choạng bước trong bóng tối, thỉnh thoảng lại dừng lại để cố dương mắt tìm hướng đi. Mấy lần, anh đã suýt té phần vì cơn mệt đang xâm chiếm anh, phần vì tinh thần đã bắt đầu xa xút. Trong thâm tâm, anh chỉ muốn tìm một chỗ tạm dừng chân để nghỉ ngơi ít lâu trước khi tiếp tục đi nốt đoạn đường đưa anh đến căn nhà mà lúc chiều người thiếu nữ anh gặp trên đường đã cho anh biết. Người con gái mặc bộ quấn áo nâu xẫm với vẻ mặt sáng sủa không có vẻ nhà quê chút nào đã nói với anh bằng một giọng nam lơ lớ, pha lẫn giọng bắc:

  • Chú cứ đi doc theo con lộ này chừng hai cây số nữa thì sẽ thấy một tấm bảng ghi “Hợp tác xã Du Xuyên” có mũi tên chỉ. Đi thêm chừng 200 thước nữa sẽ có con đường đất nằm cạnh một con rạch dẫn vào huyện Du Xuyên, chú đi vô chừng một cây số, hỏi thăm họ chỉ cho nhà anh Ba Lượng.
  • Chỗ đó có dễ tìm không cô?
  • Dễ lắm, chú cứ nghe cháu đi. Đi chừng một tiếng nữa thì chú sẽ tới nơi thôi à.

Hoàng đã đi hơn hai tiếng mà không tìm thấy đâu tấm bảng chỉ dẫn đường đến huyện Du Xuyên như người con gái đã nói. Trời khi đó nóng oi ả và chiếc áo anh mặc trên người ướt đẫm mồ hôi.  Anh cũng đã khá mệt, vì lội bộ đã cả hai tiếng đồng hồ, kể từ lúc chiếc xe gắn máy lôi ngừng tại nga ba con lộ chánh, một nhánh đưa tới chìếc cầu băng qua con sông để đi tiếp đến quận Trà Hương. Nhưng sự nôn nóng đã thúc đẩy anh tiếp tục đi qua những cánh đồng mênh mông cỏ hoang mọc lởm chởm những bụi cây trụi lá trơ trọc những cành khẳng khiu đen như than. Cho đến khoảng bảy giờ chiều, khi anh đưa cổ tay lên nhìn giờ, trời tối bỗng đến nhanh chóng và những làn gió mát rượi đã báo hiệu cho anh biết rằng cơn mưa sắp đổ xuống. Và bây giờ đây, quả như anh đã tiên đoán, những hạt mưa nặng đã bắt đầu va vào mặt anh và trong đêm tối mịt mờ những tia chớp đã bắt đầu lóe sáng nơi chân trời. Anh chưa nghe thấy tiếng sấm gầm thét nhưng anh nghĩ chẳng bao lâu nữa thì nước sẽ đổ xuống như thác và những làn chớp sẽ báo hiệu những đợt sấm long trời lở đất nổi lên tiếp theo. Anh chẳng buồn xem giờ nữa. Vả lại trong cái bóng tối đen kịt như thế này, có đưa mặt chiếc đồng hồ lên sát mắt cũng chẵng thấy đuợc. Bây giờ anh hối tiếc anh đã không đi thẳng tới quận Trà Hương ngủ đêm ở đó, đợi sáng hôm sau quay trở lại sớm. Như thế anh sẽ có được cả ngày đi tìm căn nhà Ba Lượng. Trong đầu anh chỉ còn một ý nghĩ là xin trời sui đất khiến anh bắt gặp được một ai để nhờ vả, để xin giúp đỡ. Anh mong được một người dân làng đưa anh về nhà cho anh tá túc qua đêm, đợi sáng đến anh sẽ tiếp tục ra đi tìm kiến người con gái anh đang đi tìm kiếm sau hơn 11 năm xa cách.

Ngày anh đi Mỹ, theo diện HO, anh đã bỏ đứa con ở lại cho bà ngoại nó chăm nuôi dùm. Không phải anh không thương nó hay anh đã quên nó mất rồi. Những ngày đen tối đó, anh đã không đủ khôn ngoan, anh đã mất hết sáng suốt và không biết quyết định sao cho đúng. Anh nghĩ anh đi trước rồi đôi ba năm sau anh sẽ đón con gái sang xum họp với anh, khi đó anh đã có phương tiện vật chất để lo cho con ăn học. Anh đã sợ rằng đưa nó sang cùng một lúc, hai bố con sẽ cùng khổ, cùng phải chống trọi với cuộc sống cam go bước đầu nơi xứ lạ quê người. Vả lại, khi đó con anh mới 11 tuổi, nó có sang sau đôi ba năm cũng không trễ.

Khi nhận được giấy tờ cho phép anh ra đi anh đã  chỉ nghĩ đến thân phận anh, anh đã muốn bỏ lại tất cả quá khứ đau thương đàng sau lưng, anh đã muốn đi trốn một thực tế khốn nạn. Tương lai anh sẽ ra sao, anh đã không hình dung được. Hơn chín năm đi cải tạo đã làm tâm hồn anh mệt mỏi chán chường, thân xác anh héo mòn yếu ớt. Với cái tuổi gần năm mươi, anh đã tự cho là già, là cuộc đời chằng còn lại bao nhiêu để mà mong mà đợi. Chín năm nằm trong tù đã làm cạn hết tiềm lực nơi anh, đã làm cho con tim anh khô cằn, làm anh nhụt ý chí. Trước kia anh vẫn được bà con bạn bè cho là có nhiều tinh thần phấn đấu, nhiều ước vọng để theo đuổi. Anh đã ao ước có ngày giải ngũ để anh được trả về đời sống dân sự, để anh có nhiều cơ hội thực hiện những giấc mơ của mình. Chưa gì thì Việt Cộng tràn vô, những tham vọng của anh tan thành mây khói, anh đi cải tạo. Anh đã tường chừng đi vài ba năm, đâu dè bị nhốt chín năm trời, chín năm tươi đẹp nhất của cuộc đời con người.

Cũng như trăm ngàn sĩ quan khác của quân đội miền Nam, anh đã bị bọn Cách Mạng dối gạt. Anh đã đi trình diện vì đinh ninh sẽ đi học tập một thời gian ngắn rồi sẽ trở về sinh sống với vợ con và anh sẽ được hưởng một cuộc sống yên bình. Chiến tranh đã chấm dứt, đất nước đã thống nhất chẳng còn lý do gì để không được sống thanh bình trong niềm hạnh phúc chung của toàn dân. Thế nhưng vì bọn Cộng Sản vẫn nuôi dưỡng hận thù nên hàng trăm ngàn người miền Nam mới bị bỏ tù. Chúng sợ miền Nam sẽ nổi dạy chống đối nên chúng chặn đứng ngay cái mối nguy cơ đó để có thể ngủ yên giấc sau khi đã chiến thắng vẻ vang quân Mỹ Ngụy.

Như thế anh đã đi tù khi mà đứa con gái anh mới chưa đầy hai tuổi. Sống thời binh lửa, anh đã không nghĩ đến chuyện lấy vợ đẻ con cho đến khi tuổi đã gần bốn mươi. Lập gia đình chưa được ba năm thì đất nước rơi vào tay quân thù, anh đã phải xa gia đình, xa những người anh chưa kịp yêu thương cho đã, chưa kịp hưởng được cái hạnh phúc đáng lý ra anh phải được hưởng lâu dài. Âu đó cũng là số trời.

Nhưng phải tạm thời xa cách những người thân yêu, phải đi tù, phải chịu nhục, chịu đầy đọa cả thân xác lẫn tâm hồn cũng chưa phải là tất cả. Hai năm sau ngày anh đi học tập cải tạo, anh được tin vợ anh đã gởi con về cho bà ngoại ở dưới quê, còn nàng thì đã đi sống với một tên cán bộ. Người em gái đi thăm nuôi anh lúc đầu đã giấu câu chuyện đau thương này, không muốn cho anh hay vì sợ anh đã khổ sở lại càng khổ sở thêm. Nhưng sau ba bốn lần thăm nuôi mà chỉ thấy mặt em mình, không được nhìn mặt người vợ thương yêu, sau khi gạn hỏi mãi thì anh mới được cho biết cái tin trời đánh này. Những tháng sau đó anh đã đau buồn không thể tưởng tượng nổi, các bạn tù đã phải gắng khuyên răn anh, anh cuối cùng cũng đã nhận thức được rằng đó là định mệnh, đó là cái số trời buộc anh phải chịu, chẳng làm cách nào mà thoát.

Với năm tháng trôi qua, anh dần dần bình tĩnh trở lại. Tuy nhiên anh đã ngày càng thụ động. Càng ngày anh càng thấy cuộc đời chẳng có gì để mà nuối tiếc, chẳng còn gì để mà mơ ước, chẳng còn chuyện gì để còn phải quan tâm nữa. Anh đã sống từng ngày, chẵng còn mong đợi cái ngày được thả vì anh nghĩ dù có được ra khỏi nơi tù đầy thì cũng chẳng có nơi nào đến để mà được sống yên thân. Thế nhưng cái gì đến vẫn phải đến, cuối cùng anh cũng được gọi lên ban quản giáo để cùng với mấy chục bạn đồng tù tiếp nhận sự khoan hồng của đảng và nhà nước và được thả cho ra về với gia đình. Chín năm sau, đảng và nhà nước mới tha tội cho anh, cái tội đã sống trong miền Nam và đã tham dự vào công cuộc bảo vệ quyền tự do và hạnh phúc của hơn ba trục triệu người dân Việtnam không muốn sống dưới chế độ độc tài đảng trị của Cộng Sản.

Anh về nhà để thấy không riêng gì anh tiều tụy mà cả ba mươi triệu đồng bào của anh cũng tiều tụy như anh. Họ không phải đi lao động cải tạo như anh nhưng họ cũng đã phải trải qua bao cảnh hãi hùng, họ cũng phải nghe bao nhiêu lời đe dọa mắng chửi dạy dỗ của nhà nước cách mạng, cũng phải đói dài, cơm không có mà ăn, việc không có mà làm. Cả một nửa đất nước đang được sống tự do sung sướng cũng đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Anh về đến nhà để không còn thấy vợ con anh đâu nữa, căn nhà nay đã đổi chủ, xóm cũ bao nhiêu gia đình đã bỏ nước trốn đi, bao nhiêu gia đình khác bị đi đầy đọa nơi những vùng rừng sâu nước độc mệnh danh là những vùng kinh tế mới. Bao nhiêu căn nhà nay đã đổi chủ. Nhìn những bộ mặt ngu xi đần độn của quân ăn cướp nay ung dung sống trong những căn nhà chúng đã chiếm được nhờ bạo lực và khủng bố, anh thấy dâng lên trong lòng một cảm nghĩ đau đớn chua chát cho số mệnh của quê hương anh, quê hương của gần một triệu chiến sĩ đã từng xả thân bảo vệ trong hai mươi năm trời.

Một tia chớp loé lên tại phía chân trời xa xăm, lập loè kéo dài hai ba chục giây mới chịu ngưng và chừng một phút sau đó một tiếng xấm kinh hoàng nổ vang làm cho cả vùng đất dường như rung chuyển. Hoàng bị tiếng xấm vang dội tấn công bất ngờ. Anh hoảng hồn cúi gập đôi mình xuống như để tránh né một lớp mìn nổ hay một viên đại bác công phá đâu gần đấy. Mười năm sống trong binh nghiệp vẫn còn để lại chút dư âm trong anh, gây ra cái phản xa tự nhiên đó. Chừng vài ba phút sau thì những tia chớp lại lóe lên liên hồi và mưa đổ xuống ầm ầm như thác lũ. Áo quần giầy anh nay đã ướt sũng, nước mưa chảy thành những giòng suối con con trên mặt anh từ trên đỉnh đầu xuống cho đến tận cầm.  Mắt anh không còn thấy đường đâu mà đi nữa. Anh đành ngưng bước, đứng lại ngay giữa con đường đất nơi hoang vu hẻo lánh. Xung quanh không một bóng nhà dân, nhìn xa tuốt cũng không thấy le lói một ánh đèn dù cho là một ánh đèn dầu.  

Hoàng đang phân vân chưa biết phải làm gì thì ngay khi tia chớp sau lóe lên, anh thấy cách xa anh chừng một trăm thước bỗng hiện ra một bóng người, một tay cầm một chiếc đèn gió nhỏ leo lét sáng, tay kia vẫy vẫy làm dấu bảo anh lại phía mình. Như bắt được vàng, anh liền cố bước đi nhanh, loạng chọang trong bóng tối mịt mù, về phía có ánh đèn mờ mờ sáng. Dường như anh sợ nếu trễ một tí thì bóng người đó sẽ biến đi mất. Gió thổi ào ào cản bước anh, cơn mệt gây cho anh có cảm tưởng như không còn đủ sức kéo lê đôi chân và anh đã phải lấy hết sức mới có thể bước tới được. Tới gần chỗ có bóng người khi nãy thì vừa lúc cơn chớp lại lóe lên đồng thời anh nghe tiếng người con gái nói:

  • Trời cháu đi tìm chú muốn chết! Sao chú đi đâu mà đi vào lối này? Chú đã đi quá cả mười cây số mà không hay đó, chú biết không? Thôi chú đi theo cháu đi. Để cháu nắm tay đưa chú đi nghe!

Anh như người gần chết được cứu sống. Miệng anh lí nhí:

  • Cám ơn con. Chú đi lạc mà đâu có hay biết gì đâu?

Anh nhận thức anh đang đứng trước một người con gái, giọng nói nghe hơi quen thuộc. Anh đã nghe giọng nói đó mới đây, nơi nào anh không nhớ. Người con gái vừa nắm tay anh thì một cảm giác lành lạnh chạy theo dọc xương sống làm cho anh rùng mình. Tự dưng anh thấy cổ họng, trong một vài giây, nghẹn lại và tim anh bỗng đập dồn dập. “Thật là lạ lùng!”, anh thầm nghĩ. “Có thể vì mình đã bị thấm lạnh nước mưa?” Cơn mưa giờ đã ngưng và trên trời, mây đen đã trôi đi, vài ngôi sao đã lấp lành trông như cảnh thần tiên. Mặt trăng lưỡi liềm nơi gần chân trời xa xăm toả xuống một ánh sáng mầu xanh nhạt. Từ khi người con gái nắm tay anh, từ từ anh đã không còn cảm thấy mệt như lúc trước đó, đôi chân anh bước vững vàng hơn và ngay cả tâm hồn anh cũng thấy thoải mái dễ chịu, anh đã thoát khỏi sự lo âu buồn bực.

Hai người đi như thế một quãng xa lắm, băng qua những cánh đồng hoang, để rồi anh bổng thấy một bãi tha ma nhỏ, những nấm mộ chỉ là những ụ đất cao không quá ba bốn chục phân tây. Trên những ụ đất đó, anh thấy những cụm ánh sáng bay lơ lửng chập chờn như những bóng ma, làm cho anh hơi chột dạ. Thấy anh run rẩy, người con gái liền nói:

  • Không có gì mà chú phải sợ! Đó chỉ là những chất lân tinh phản chiếu lại ánh trăng đó thôi!
  • Chú chưa từng thấy cảnh này bao giờ! Anh nói.
  • Đối với cháu thì đã quá quen thuộc. Những đêm có trăng cháu thường ra nơi đó ngồi xem những bóng ma chạy chơi, đùa rởn với nhau, trông thật là vui mắt.
  • Cháu nói gì? Bóng ma?
  • Vâng. Những bãi tha ma chẳng có ma thì còn có gì nữa hả chú? Người chết sang thế giới bên kia cũng mong thỉnh thoảng trở về cõi trần thế vì nhớ cuộc sống xưa kia ấy mà!

Hoàng nghe người con gái nói thản nhiên như vậy vừa thấy lạ vừa thấy rờn rợn nơi gáy. Anh vốn dĩ không tin dị đoan. Anh đã đọc nhiều chuyện ma hiện hồn về quấy phá nhưng anh chẳng bao giờ cho đó là chuyện có thật.

  • Cháu biết chú đang phân vân không biết lời cháu nói là thật hay cháu chỉ nói đùa. Bây giờ có thể chú chưa tin, nhưng rồi chú cũng sẽ phải tin thôi!

Anh giữ im lặng trước câu nói của người thiếu nữ và nàng cũng thôi không kéo dài thêm câu chuyện. Nàng thoăn thoắt bước đi và chỉ chừng năm phút sau anh thấy trước mắt một căn chòi nhỏ, có ánh đèn bên trong lờ mờ hắt ra qua chiếc cửa sổ nhỏ xíu. Thêm vài phút nửa, hai người đã tới cửa căn nhà chòi, người con gái vẫn nắm tay anh, nàng dắt anh vào, miệng nói:

  • Tối thế này chẳng đi đâu được chú à. Thôi đêm nay chú tạm nghỉ ở đây, đến canh ba, cháu sẽ đưa chú đến tận nơi chú đang muốn tới.
  • Cám ơn cháu nhiều lắm! Không có cháu giúp đỡ thì thật tình chú không biết phải làm sao.
  • Xin chú đừng nói đến chuyện ơn nghĩa! Vì nếu nói đến ơn nghĩa thì chính cháu phải cám ơn chú đã đến nơi đây mới phải.

Nghe người con gái nói như thế, giọng hơi run run như muốn khóc, anh lấy làm lạ. Quay mặt nhìn nàng dưới anh đèn dầu lờ mờ, anh lại càng thấy lạ hơn khi bóng nàng ẩn hiện, khi tỏ khi mờ. Anh không hiểu có phải tại anh hoa mắt hay không, hay tại vì anh quá mệt mỏi, không còn tâm trí đâu để mà nhìn cho rõ. Giọng nói tiếp tục, thật bí mật:

  • Cháu nói vậy chắc chú lại càng không hiểu. Nhưng cháu biết rồi chú cũng sẽ rõ hết câu chuyện cháu muốn nói. Thôi bây giờ chú hãy nằm trên tấm phản kia ngủ đi.

Hoàng ngã lưng xuống tấm phản ghép bằng những tấm gỗ cũ đặt trên gạch viên. Anh buồn ngủ lắm nhưng vẫn cố giương mắt nhìn người con gái xem nàng sẽ làm gì sau đó. Bất chợt anh thấy như có một lớp hào quang bao vây nàng làm cho anh thấy nàng thật rõ. Anh ngạc nhiên khi nhận ra người con gái nhà quê anh đã gặp lúc trưa, người con gái đã chỉ đường cho anh đi. Nghe giọng nàng anh đã ngờ ngợ nhưng cơn mệt đã làm cho anh không cố gắng tìm xem giọng đó là của ai. Ánh hào quang bao vây bóng nàng chỉ tồn tại vài giây đồng hồ và sau đó cả lớp ánh sáng bao quanh lẫn bóng người con gái đều biến mất. Anh chưa kịp kinh hãi thì cơn ngủ đã xâm chiếm đầu óc và anh chẳng còn biết chuyện gì nữa.

  • Chú dậy đi! Cháu đưa chú đi sớm! Chắc chắn chú có nhiều việc phải làm trong ngày hôm nay!

Tiếng gà gáy vọng lại từ rất xa báo hiệu canh ba đã đến. Mở choàng mắt dậy, Hoàng thấy khoảng không gian xung quanh vẫn còn tối đen, cây đèn dầu trên chiếc bàn nhỏ vẫn leo lét cháy. Anh ngồi dậy, chần chừ một lúc ngắn. Tiếng người con gái lại nói như thúc dục:

  • Từ đây đến ngã ba đi vào huyện Du Xuyên cũng phải cả tiếng đồng hồ. Chú phải đến nhà chú Ba Lượng sớm không chú ấy ra đồng, đi tìm sẽ mất công lắm!
  • Ừ thì ta đi , anh trả lời.

Hai người ra đi rất lâu mới tới được ngã ba nơi có con đường rẽ vào huyện Du Xuyên. Trời đã hơi ửng sáng và những cảnh vật xung quanh đã lờ mờ hiện ra trong vùng tranh tối tranh sáng. Người con gái đưa anh tới ngay trước căn nhà nhỏ bé của Ba Luợng làm cho anh lại thêm một lần nữa ngạc nhiên không ít. Anh hỏi:

  • Bộ con quen chú Ba Lượng hay sao mà biết nhà hay quá vậy?

Người con gái nhìn anh mỉm cười:

  • Chú Ba Lượng đã giúp cháu hai lần, một lần khi cháu từ giã nơi này ra đi và một lần nữa khi chú lại tiếp đón cháu khi cháu trở về.
  • Cháu nói gì chú không hiểu được. Thế cháu ra đi đâu? Và trở về hồi nào?
  • Chú Ba Lượng là người đã đưa cháu đi đến một nơi rất xa, chú không biết được nơi đó đâu, mà cháu cũng chẳng muốn nói ra làm gì. Bốn mươi chín ngày sau, cháu đã tìm cách trở về với gia đình chú và chú đã vui vẻ tiếp nhận cháu như một người thân thiết trong gia đình.
  • Chuyện này xẩy ra đã lâu chưa cháu? Anh tò mò hỏi lại.
  • Cũng đã sáu năm rồi. Đúng ra cháu cũng chẳng muốn kể ra cho chú nghe chuyện của cháu làm gì. Nhưng đã hơn mười năm nay cháu vẫn ao ước được gặp lại bố cháu. Nay thì cháu đã được mãn nguyện. Thấy bố cháu khoẻ mạnh hơn khi xưa, cháu rất mừng! Thôi mời chú vào nhà nói chuyện với chú Ba đi. Cháu xin chào chú, cháu đi đây. Chắc chẳng bao giờ cháu còn được gặp lại chú nữa đâu!

Hoàng thấy những giọt nước mắt lăn xuống hai bên má người thiếu nữ và lòng anh xe lại vì bồi hồi xúc động. Anh tự nhiên cảm thấy như giữa anh và nàng có một mối liên hệ thân thiết từ lâu lắm, một cái gì gắn bó giữa hai người, một thời đã xa cách nhau nhưng nay đã được hàn gắn trở lại. Anh tính ôm nàng vào lòng, nói đôi ba lời an ủi và cám ơn, nhưng khi quay sang thì chẳng thấy người con gái đó đâu nữa. Anh thắc mắc tự hỏi “Không lẽ cô nàng trốn đi? Sao mới ở đây mà nay đã biến đi đâu rồi vậy nhỉ?” Nhưng rồi sự hồi hộp lại xâm chiếm anh khi nghĩ đến việc anh sắp được gặp Ba Lượng, một người anh chưa quen biết bao giờ.

Việc tìm kiếm đứa con gái thân yêu đã đưa anh đến với Ba Lựợng. Thật là một câu chuyện ly kỳ đã xẩy đến với anh chỉ mới cách đây vài tháng. Sự thể là như thế này. Sau khi anh đến định cư tại đất Mỹ, anh được Tuấn, một người bạn xưa kia cùng đơn vị, giúp đỡ đưa anh về sống cùng tại một thành phố lớn Tây Bắc Hoa Kỳ. Người bạn anh sống bằng nghề đi cắt cỏ, dọn dẹp vườn, chăm lo cho các cây cối tại các nhà người Mỹ. Anh đã làm công việc phụ giúp Tuấn để sinh sống qua ngày. Sau khi đi làm ba năm, dành dụm được ít tiền, anh tính về thăm con và bà ngoại của nó. Anh đã tìm cách liên lạc lại với người mẹ vợ cũ của anh nhưng những lá thư anh viết về hoặc không được hồi âm, hoặc đã bị đưa trả lại. Anh buồn bã chán nản không biết chuyện gì đã xẩy ra bên nhà và anh tự trách mình từ sau ngày đi Mỹ, anh đã không thư từ về cho những người thân yêu, để đến khi liên lạc lại thì không còn liên lạc được nữa. Anh cho rằng bà ngoại và đứa cháu có thể đã trở lên Saigon sống với người vợ cũ của anh. Anh đã nhờ bạn bè và những người quen tìm hộ xem giờ này con anh ở đâu, nhưng vô ích. Không ai tìm được nơi sinh sống hiện giờ của người vợ cũ của anh. Có thể bà ấy đã theo chồng đi ra Bắc, đi lập nghiệp bên Cămpuchia hay trốn đi vượt biên và nayđang  sinh sống ở một xứ nào đó mà không ai hay biết.

Thế rồi chẳng hiểu vì một lý do gì, cách đây vài tháng, có một lá thư gửi đến anh từ huyện Du Xuyên. Mở lá thư ra, anh thấy những giòng chữ nguệch ngoạc viết trên một trang giấy học trò:

Kính thưa Ông Hoàng,
Tôi được biết ông đang tìm người con gái nên tôi viết lá thư này để báo cho ông hay tin buồn là cháu đã mất cách đây gần năm năm, và chính tôi đã đứng ra mai táng cho cháu. Nếu ông về thăm mộ cháu thì xin ông cứ tự tiện liên lạc với tôi, Ba Lượng, hiện sống tại Ấp 3 huyện Du Xuyên, tỉnh X, Việt Nam. Xin kính chào ông.

Đọc những giòng chữ ngắn ngủn, tim anh đã đập như muốn phá vỡ lồng ngực. Nước mắt anh đã trào ra. Anh đã đọc đi đọc lại lá thư cả chục lần và càng đọc anh càng bồi hồi. Thật là một tin trời đánh đến với anh vào đúng lúc anh đang không biết phải làm ra sao để được biết tin về đứa con gái anh đang đi tìm. Nhiều câu hỏi lởn vởn trong tâm trí anh, “Ông Ba Lượng này là ai?”, “Sao ông biết vụ mình đi tìm con?”, “Sao ông có địa chỉ của mình mà gửi thư đến?”, “Ông là gì mà lại lo vụ mai táng cho con gái mình?”, “Mụch đích của lá thư là để làm gì?”, “Liệu mình có thể tin được điều ông nói hay không?”, v..v… Đầu óc quay cuồng, anh sửng sốt, xúc động, lo lắng. Anh phân vân không biết phải làm gì bấy giờ.

Sau đó suốt bao nhiêu ngày anh có cái cảm giác đau đớn của một người cha đã mất đứa con yêu. Nếu quả thật sự việc xẩy ra như lời nói trong thư thì con anh đã qua đời từ năm năm nay mà anh đâu hay biết? Anh sao còn đi thấy được con anh nữa? Cơn đau đến với anh muộng màng, nhưng không phải vì vậy mà anh kém đau, mà anh không còn đau sót nhiều. Trái lại, anh còn đau đớn hơn, nhất là khi nghĩ đến thân phận hẩm hiu của đứa con anh cố tình đã bỏ lại. Cảm giác tội lỗi tràn ngập tâm trí anh, dằn vặt tâm hồn anh trong bao nhiêu ngày tháng sau đó. Anh tự trách khi rời nước ra đi tị nạn, anh đã không suy nghĩ kỹ nên nay bị hậu quả khắc nghiệt, một hậu quả quá bi thương mà anh đã không lường trước được.

Khi anh đưa cho Tuấn, người bạn tri kỷ, xem lá thư của Ba Lượng, anh ta đã nói:

  • Đây là chuyện thật, không phải là chuyện bịa đặt ra để làm tiền anh đâu!
  • Nhưng tôi có biết anh Ba Lượng này là ai?
  • Anh ta biết anh và cho anh tin như vậy là đủ, anh còn thắc mắc làm gì? Anh nên thu xếp về càng sớm càng tốt! Đây là một việc hệ trọng, anh không nên chần chừ!
  • Nhưng tôi đi bất chợt, anh lấy ai thế tôi? Công việc hàng ngày làm sao anh lo một mình được?
  • Chuyện tôi anh cứ để tôi liệu! Anh nên về tìm hiểu cho rõ xem sự việc đã xẩy đến ra sao. Anh cứ đi đi. Không có gì phải lo lắng cho tôi hết!

Từ ngày nhận được lá thư đó cho đến khi anh quyết định về Việt Nam tìm đứa con bất hạnh cũng đã mất ba tháng trời vì anh còn phải xin giấy phép ra khỏi rồi trở về lại nước Mỹ và giấy phép nhập cảnh Việt Nam. Vì chưa có quốc tịch Mỹ anh chưa bao giờ dám đi xa, ngay cả trong nước Mỹ anh cũng chỉ một lần đi thăm bạn bè và tham quan miền Nam Cali. Ngoài ra còn thư qua thư lại với Ba Lượng để hỏi thăm xem từ Saigon xuống đến huyện Du Xuyên phải đi thế nào, mất bao lâu để còn tính thời gian ở lại quê nhà. 

Tuấn đưa anh ra phi trường vào một buổi sáng mưa gió bão bùng. Thời tiết đã thay đổi vào những ngày cuối năm, và suốt tuần trước đó, mưa đã đổ xuống như chút nước. Anh có cảm tưởng ông trời đang chuẩn bị tinh thần cho anh vì khi anh về đến Saigon trời cũng sẽ mưa to gió lớn. Hay tại ông muốn che cho anh những giọt nước mắt vì trong cơn mưa những giọt nước mắt có trào ra cũng chẳng thấy được.

Trước khi lên phi cơ, Tuấn dúi vào tay anh một mớ giấy bạc màu xanh. Anh cố đẩy tay Tuấn ra nhưng giọng người bạn đã quá khẩn khoản:

  • Anh cứ cầm đi, nếu không dùng đến, lúc về đưa lại cho tôi. Anh đừng quên trả ơn anh Ba Lượng. Tôi thấy anh ấy là một người tốt. Chúc anh lên đường may mắn.

Tuấn đứng chờ rất lâu trong khi anh nối đuôi đi vào hàng rào kiểm soát an ninh phi trường. Khi qua được máy rà rồi, anh còn thấy bạn anh vẫy tay chào trước khi lững thững bước ra về.

Hoàng đang chần chừ trước cửa nhà Ba Lượng thì một người đàn ông nông dân, mặc bộ đồ đen, tuối chừng bốn mươi bước ra hỏi:

  • Thày hỏi ai hay cần chi vậy thày?
  • Xin lỗi có phải anh là Ba Lượng? Hoàng hỏi lại.
  • Dạ, thưa chính tôi Ba Lượng đây.
  • Còn tôi là người cha đi tìm đứa con gái…
  • Ồ, chèng ơi!Bữa nay được thày tới đây tôi mừng lắm đó nghe! Coi bộ tôi chờ thày cũng đã lâu lắm rồi đó! Mời thày vô trong nhà…

Ba Lượng, một người đàn ông nhỏ bé, đen đủi, vẻ mặt hiền lành, cái miệng luôn mỉm cười vui vẻ, mời anh ngồi nơi chiếc bàn mộc giữa nhà. Anh đưa miệng kêu vào phía nhà trong:

  • Bà ơi, nhà có khách! Bà nấu chút nước pha trà mời thày Hai giùm tôi được không?

Có tiếng “Dạ” của người vợ đáp lại. Hoàng đưa mắt nhìn một vòng quanh nhà và anh giật mình khi thấy trên nóc một chiếc tủ đứng cẩm lai có bàn thờ với một tấm hình nhỏ của người con gái anh đã gặp bữa hôm trước, người con gái mới sáng sớm hôm nay đã đưa anh tới căn nhà này.

Thấy anh đứng dạy đi lại gần chiếc tủ, Ba Lượng liền cất tiếng:

  • Tôi biết thầy muốn chuyện gì rồi! Để một chút nữa tôi nói hết cho thầy nghe. Thầy hãy ngồi nghỉ chút xíu đi, uống trà cho ấm bụng đi đã.

Thế rồi trước tách trà nóng, Ba Lượng đã kể lại cái chết của người con gái anh. Bữa đó nàng được tin mẹ từ Saigon nhắn xuống quê ngoại nói rằng bà đau và muốn con gái lên thăm. Cô gái, khi đó mười bốn muời lăm tuổi, đã được bà ngoại đưa ra bến xe đò để đi Saigon. Xui xẻo thay khi đến gần huyện Du Xuyên thì chiếc xe đò đâm vào một chiếc xe đò khác chạy ngược chiều. Trong tai nạn khủng khiếp đó, con gái anh đã tử thương cùng với năm sáu người khác. Được tin cháu ngọai chết nhưng vì nhà ở quá xa nơi xẩy ra tại nạn nên bà đã quyết định nhờ anh chôn cất cháu ở ngay huyện Du Xuyên thay vì đêm xác về tuốt quê.

  • Nhưng anh quen biết với bà ngoại cháu làm sao mà lại có sự nhờ cậy này? Hoàng hỏi
  • Câu chuyện là như vầy nè ! Em vợ tôi nó đi sống tại quê bà Tám cũng đã chục năm nay và không hiểu sao hai người quen biết nhau. Bà Tám biết có tôi sống ở đây nên biểu nó về nhờ tôi làm mai táng cho đứa cháu tại chỗ. Tôi thấy tội nghiệp con bé nên tôi giúp chớ không có tiền bạc gì trong chuyện này đâu thày à !
  • Tôi xin thành thật cám ơn anh Ba, Hoàng nói. Tôi ở xa có hay biết gì đâu ? Vì mắc làm ăn sinh sống nơi xứ người nên mấy năm nay tôi không liên lạc về nhà. Mong anh Ba hiểu cho hoàn cảnh của tôi…

 

Hoàng đã nói câu chót này như thể anh đã nói với con gái anh để xin tạ lỗi. Anh có cảm giác hồn nàng lúc đó đang luẩn quẩn đâu đó trong căn phòng nơi anh và Ba Lượng đang ngồi nói chuyện và nàng đã nghe hết những lời hai người nói với nhau.

  • Tôi đâu có dám trách gì thày đâu mà thày nói vậy !  Tôi cũng hiểu thấy thảy mới qua bên đó gặp nhiều chuyện khó khăn, đâu có rảnh rỗi tâm trí đâu mà viết thư về ?
  • Cám ơn anh Ba nhiều lắm ! Anh hiểu cho tôi như thế tôi bớt khổ tâm phần nào ! Nhưng còn bà ngoại cháu đâu mà hồi mới đây tôi viết thư về không thấy trà lời vậy ?
  • Tội nghiệp bà Tám lắm thầy ơi ! Cái chết của người cháu gái làm cho bà hết muốn sống nữa và sau đó chừng một năm bà cũng ra đi luôn !

Nghe thêm tin buồn này, Hoàng thấy đau nhói như có mũi kim đâm thẵng vào tim anh. Anh nghẹn lời trong vài phút, chỉ ngồi đó vẻ mặt trầm tư. Ba Lượng an ủi anh:

  • Thôi thày đừng có buồn nữa! Chuyện xẩy ra như vậy là do ông trời định! Tránh sao khỏi số trời thầy ơi!
  • Còn như vụ anh viết thư cho tôi, sao anh biết tôi ở đâu mà viết vậy?
  • Thì có một bữa thằng em vợ tôi nó về thăm! Nó cầm lá thư của thày về cho tôi coi. Nó nói tôi phải viết cho thày hay kẻo tôi nghiệp thày cứ trông hoài…
  • Thật anh Ba tốt quá! Tôi không biết làm sao đền đáp ơn anh…
  • Ơn nghĩa gì mà thày lo thày ơi! Sống ở đời mình làm chuyện phước đức thì lại được hưởng nhiều phước chứ có gì đâu? Vả lại tôi cũng mong khi nào đó thầy sẽ về thăm mộ con bé…Có nhiều chuyện lạ lùng xẩy ra từ ngày tôi chôn cất nó…

Nghe Ba Lượng nói, anh thấy rùng mình. Con gái anh đã về đêm qua má anh đâu có dè? Anh đã nghi có chuyện gì bí mật xẩy ra nhưng đã không tìm ra. Con anh chẳng ám chỉ trong lời nó nói rằng nó đang ở bên anh hay sao? Ba Lượng lại nói thêm làm cho anh giật nẩy mình:

  • Mà chưa hết đâu, còn một chuyện nữa thày ơi! Không hiểu vì sao, đứa con gái vợ tôi sanh ra sau đó nó cứ không chịu nói nó là con tôi mới kỳ! Nó nói bố nó ở tận nơi xa. Tôi hỏi ở đâu mà xa, thì nó biểu ở bên Mỹ lận. Nó còn nói kiếp trước nó là cô gái đang nằm trong ngôi mộ nơi cánh ruộng bên nhà đây nè! Thể có phải là kỳ cục không thày?

Hoàng nhìn theo ngón tay Ba Lượng chỉ ra phía sau nhà, nơi cơn gió ngoài đồng ruộng thổi mạnh, làm chuyển động đầu cây lúa chín vàng trông tựa như những làn sóng ngoài biển. Anh muốn Ba Lượng đưa anh ra thăm ngôi mộ nhưng chưa kịp nói thì Ba Lượng đã lại nói tiếp:

  • Để tôi biểu bà nhà tôi đem con nhỏ ra đây chào thày. Giấc này nó đã ngủ dạy rồi mà! Rồi thày nghe nó nói cho thày hay!

Ba Lượng kêu lớn tiếng bảo vợ đưa đứa con gái nhỏ ra chào anh. Đó là một đứa bé gái chạc năm sáu tuổi, mắt mũi sáng sủa không giống những đứa bé  con nhà quê: tóc đen dài, đôi mắt nhung huyền rất to, trán cao, mũi dọc dừa. Nhìn vào không ai có thể bảo nó là con hai vợ chồng Ba lượng. Vừa trông thấy anh, nó liền chạy lại, mừng rỡ kêu lên, giông nói chững chạc như đã lớn:

  • Ông mới là bố tôi! Tôi đã chờ ông từ hơn mười năm nay ! Tôi đã biết trước thế nào một ngày ông cũng sẽ về đây thăm tôi !

Hoàng hết sức kinh ngạc nhưng anh cố giữ bình tĩnh. Trước sự chứng kiến của Ba Lượng,  anh muốn xem thực hư ra sao nên hỏi con bé:

  • Con nói gì lạ vậy ? Thế còn má con đâu ?
  • Má tôi hiện ở với một người đàn ông lạ, tôi không biết là ai vì trong một thời gian rất lâu tôi đã sống với ngoại.
  • Thế sao bây giờ con không ở với bà ngọại ? Anh hỏi lại để thăm dò.
  • Ngoại tôi chết đã lâu, từ khi tôi mới sanh được có vài tháng. Tôi không muốn ở đây đâu ! Tôi muốn về sống với ông, vì ông mới là bố tôi !

Nghe đứa bé nói như vậy, Ba Lượng chợn mắt la đứa bé :

  • Mày nói gì kỳ cục vậy ? Tao mới là bố mày chớ! tao nuôi mày từ nhỏ tới giờ mà !

Con bé quay ngay sang Ba Lượng nói:

  • Tôi cám ơn ông đã cho tôi tá túc suốt bao nhiêu năm qua! Nhưng sự thật tôi phải nói ra! Bố tôi là người này. Con bé vừa nói  vừa lấy tay chỉ Hoàng.
  • Thế con tao là ai? Ba Lượng cáu tiết hỏi
  • Thôi ! Xin anh Ba bớt giận, tội con bé, nó còn nhỏ chưa biết gì! Hoàng nói như để can gián.

Đứa bé nhìn thẳng Ba Lượng mà trả lời câu hỏi của người bố đẻ:

  • Ông là ai ư? Tôi đã nói ông nghe nhiều lần. Ông chỉ là người đã nuôi tôi khi trước. Bây giờ đã có bố tôi lo. Nhưng chúng tôi sẽ mang ơn ông suốt đời.

Sau đó, Ba Lượng đã đưa Hoàng ra thăm ngôi mộ. Mộ con anh chỉ là một ụ đất có cỏ hoang mọc phủ đầy. Ba Lượng đã mang theo bó nhang và Hoàng đã đốt, cắm xuông bên mộ, rồi anh ngồi xuống lẩm nhẩm đọc kinh cầu cho hồn con gái được xiêu thoát. Ba Lượng đưa anh ra chợ Huyện mua hương hoa, trái cây về nhà thắp bàn thờ. Anh cũng nhờ chị Ba đi chợ mua it đồ về làm bữa cơm cúng cô hồn.

Tối hôm đó anh đã ăn cơm với gia đình Ba Lượng. Anh đã nói chuyện với Ba lượng rất lâu về trường hợp đứa con gái nhỏ của hai vợ chồng anh ta. Anh đã năn nỉ xin Ba Luợng cho anh đem nó về Mỹ để nuôi nó, cho cơ hội được ăn học đàng hoàng, đến nơi đến chốn. Anh muốn gây dựng cho nó một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai.

  • Anh Ba à ! Tôi biết làm cha làm mẹ không ai muốn xa con. Nhưng trong trường hợp này, tôi thấy anh đã giúp đỡ tôi nhiều. Tôi chỉ ao ước được đáp lại ân tình của anh đôi chút. Đưa cháu bé về sống với tôi một thời gian cho cháu sẽ được đi học tất nhiên sẽ khá hơn là ở lại vùng quê này với anh chị. Xin anh chị thương nó mà chấp thuận cho…
  • Thày nói thế cũng phải. Chúng tôi nghèo, khó nuôi nó được đàng hoàng như thày. Thôi thì chúng tôi chịu cho nó đi theo thày sang bên đó. Nhưng xin thày lâu lâu cho nó về thăm chúng tôi, sợ nó không còn biết bố mẹ sanh ra nó là ai nữa !
  • Tôi xin anh chị cứ yên tâm ! Cả tôi lẫn nó sẽ về thăm anh chị đều đều mà !

Chấm hết.

Lời viết thêm của tác giả :
Câu chuyện lạ lùng chấm dứt một cách tốt đẹp ở đấy. Sau khi làm giấy nhận đứa bé làm con nuôi, Hoàng đã đưa nó về Mỹ sinh sống với anh. Nay cháu bé, mang tên Hoài Hương, đã mười lăm tuổi. Chỉ có hai điều muốn các bạn đọc biết thêm là, thứ nhất trong một lần về thăm nhà, Hoàng đã quyết định bốc mộ người con đẻ của anh để đem cốt về Mỹ nhưng anh cho người đào hoài cũng không thấy xương cốt đâu cả. Anh nghĩ hồn con anh đã xiêu thoát và cả thể chất còn lại cũng đã tan biến theo. Thứ hai, kể từ ngày về sống với nhau, cả hai bố con anh đều không còn bị ám ảnh bởi quá khứ nữa. Điều này có thể giải thích là cả hai người đã trả xong nghiệp cũ và từ đó chỉ còn tạo nên nghiệp mới.

Hướng Dương txđ
Viết tại San Francisco
Ngày 13 tháng Giêng năm 2007

Trở lại Đầu Trang