Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Từ Cổng Brandeburg đến cây Cầu Hiền Lương
Bài của Hướng Dương txđ




Berlin WallHien luong Bridge
Ngày 9 tháng 11 năm 2009, nước Đức đã làm lễ mừng ngày kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin xụp đổ. Đối với thế giới phương Tây, đây là một ngày trọng đại, một ngày ai nấy đều cảm thấy vui mừng vì nó đánh dấu ngày chính thể Cộng Sản đã xụp đổ, người dân Đông Đức được tự do, được quyền dân chủ, được no ấm hạnh phúc, lớp trẻ có tương lai tươi sáng. Những nhà lãnh tụ Âu Châu như các ông Gorbachew, Gordon Brown, Nicolas Sarkozy, Dmitry Medvedev, Lech Walesa và thị trưởng Berlin ông Klaus Wowereit ….. đã cùng bà đương kim thủ tướng Đức Angela Merkel đã đội mưa đứng dưới cổng Brandeburg, để tươi cười nói chuyện chụp hình và quay phim hay đọc những bài diễn văn ca tụng lòng can đảm của hàng triệu người dân Đông Đức đã đứng lên nổi dậy biểu tình liên tục đòi hỏi tự do dân chủ.

Tại thành phố Leipzig vào tối ngày thứ Hai 27 tháng 1989 có hàng chục ngàn người tham gia biểu tình. Và những thứ hai sau đó đều có biểu tình ở quảng trường Karl Marx. Ngày 9 tháng 10 cả trăm ngàn người đổ ra đường đi tuần hành ho lớn những khẩu hiệu đòi tự do dân chủ. Leipzig từ đó mang danh “thành phố  anh hùng.” Những cuộc biểu tình lan rộng tới các thành phố lớn như Berlin, Dresden, Potsdam…. Đến ngày 23 tháng10 năm 1989 tổng thống Honecker đành tuyên bố từ chức. Ngày 4 tháng năm 1989 tại Berlin hơn 1 triệu người biểu tình gây áp lực với chính quyền và cho đến ngày 8 tháng 11 năm 1989 thì bộ chính trị đảng Cộng Sản Đông Đức từ chức. Những cuộc biểu tình này đã đưa đến việc mở cánh cổng Brandeburg để cho những người dân bên Đông Đức tràn sang Tây Đức và sự xụp đổ của chính thể Cộng Sản tại Đông Đức. Brandeburg trong hơn bốn mươi năm đã bị khép đóng cho đến ngày 9 tháng 11 năm 1989 để rổi bỗng nhiên được mỡ tung cho những người dân Đông Đức được đi sang bên phiá Tây Đức thở thử cái không khí tự do và nếm cái hạnh phúc của một con người sống trong xã hội phồn vinh (thực sự) của cuộc sống bên phương Tây.

Nhưng việc đứng lên đòi dân chủ tự do không phải xẩy ra ở Đông Đức trước tiên mà nó đã xẩy ra ở Ba Lan, Tiệp Khắc và khắp Đông Âu để rồi lan sang Đông Đức và sau đó như nước vỡ bờ nó tràn sang ngay cái nôi của chủ nghĩa Cộng Sản là Liên Sô, phá đổ luôn chế độ độc tài đảng trị nơi đó. Thực vậy, ngay từ năm 1956 ở Hung Gia Lợi nửa triệu người dân đã cam đảm đứng lên nổi dậy chống lại sự đô hộ của Liên Sô, đòi tự do độc lập dân chủ, nhưng khi đó quá sớm, thời thế chưa chín mùi, cuộc nổi dậy bị hồng quân Liên Sô dẹp tan trong biển máu và những nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy đã bị giết – Thủ tướng Imre Nagy bị bắt bỏ tù và bị ám sát bí mật. Vì Hung Gia Lợi phát triển kinh tế khá, đời sống người dân tương đối cao hơn Đông Đức, Roumania và Bulgaria nên phong trào dân chủ khai triển sớm hơn, như hội nghị các phe đối lập tổ chức tại vùng Monor năm 1986, việc công bố hai văn kiện quan trọng là thứ nhất bản “Khế ước Xã hội” của các nhân sĩ nổi tiếng đưa ra những điều kiện để phát triển nền chính trị dân chủ, trong đó đáng kể nhất là sự đòi hỏi lãnh tụ cộng sản Kádár János phải ra đi, và thứ hai là văn kiên liệt kê những gì Hung Gia Lợi cấp thiết phải làm để cải cách về mặt chính trị, kinh tế, văn kiện này do những chuyên viên chính trị kinh tế lập nên. Đến năm 1988, các tổ chức dân chủ MDF, FIDESZ, SZDSZ và đảng độc lập khác đã tổ chức những cuộc biểu tình rộng lớn  trong nhựng dịp kỷ niệm cách mạng 1848  vào tháng 3, rồi nhân 30 năm ngày thủ tướng Nagy Imre của cuộc cách mạng 1956 bị tử hình vào tháng 6. Ngày 2 tháng 5 năm 1989 chính quyền Hungary mở cửa biên giới với Áo để dân chúng tiếp xúc với thế giới Tự Do. Đầu tháng 7 năm 1989 tổng thống George Bush tuyên bố ủng hộ các cuộc cải cách chính trị tại Đông Âu và chính thức thăm Ba Lan và Hung Gia Lợi. Ngày 23 tháng 8 hàng chục ngàn người từ Đông Đức chạy qua Hung Gia Lợi vào các toà đại sứ Đức xin tỵ nạn.

Tại Ba Lan, kinh tế suy sụp, lạm phát phi mã, nợ chồng chất, khiến nhà cầm quyền không còn khả năng giải quyết những khó khăn đầy rẫy. Làn sóng bãi công, tranh đấu đòi tự do, dân chủ diễn ra liên tục trên toàn quốc từ nhiều năm trước năm 1981, nhưng trở nên mãnh liệt kể từ khi chính phủ Cộng Sản ban bố tình trạng chiến tranh vào ngày 13 tháng12 năm 1981. Ngày mồng 6 tháng 2 năm 1989, cộng sản Ba Lan đảnh chấp nhận đàm phán với đối lập trong một Hội Nghị Bàn Tròn. Hai tháng sau, đôi bên đồng ý tổ chức tổng tuyển cử tự do cho một phần Quốc Hội. Trong cuộc bầu cử tổ chức vào tháng 6 năm 1989 này, đối lập Ba Lan giành được nhiều ghế. Chỉ vài tuần sau đó thì chính phủ không Cộng Sản được thành lập. Ngày 9 tháng12 năm 1989, Lech Walesa được bầu làm tổng thống  và ngày 27 tháng 1năm 1990, đảng Cộng Sản Ba Lan tự giải thể. Thế là chấm dứt hơn 40 ngự trị của Cộng Sản tại Ba Lan.

Nhìn tự do dân chủ được tái lập tại những quốc gia Đông Âu, chúng ta không khỏi có một sự khắc khoải, luyến tiếc. Hai lần chúng ta luyến tiếc, lần thứ nhất là vào những năm tháng cuối cùng của Đệ Nhất Cộng Hòa khi nghe tin đồn ông Ngô Đình Nhu cử người ra Bắc thương thuyết với chế độ Hà Nội để thống nhất đất nước, tái lập hoà bình mang hạnh phúc đến cho toàn dân hai miền.  Chúng ta luyến tiếc rằng tại sao không có một sự việc tương tự như chuyện đã xẩy ra ở Đông Đức ở xứ mình, tại sao CS Bắc Việt không mở chiếc cầu Hiền Lương bắt ngang qua vĩ tuyến 17 để cho dân chúng Miền Bắc tràn sang bên phiá bên Quốc Gia và nhìn thấy rõ sự thật từ bao lâu đã được bưng bít, nhìn tận mắt cuộc sống hạnh phúc no ấm trong một nền tự do dân chủ thực sự của người dân Miền Nam? Và lần thứ hai chúng ta luyến tiếc là vào những năm 1989-90 khi Cộng sản xụp đổ tại Đông Âu và ngay cả ở Liên Sô Vĩ Đại, chúng ta tự hỏi tại sao người dân Việt Nam không vùng lên đòi tự do dân chủ, không tràn ra đường biểu tình rầm rộ như ở bên Đông Âu để áp lực làm xụp đổ cái chính quyền bạo tàn đang ngự trị trên cả nước ta?

Nhưng sự luyến tiếc của chúng ta xét cho cùng nó hoàn toàn vô căn cứ, nó chỉ là một ước mơ vô vọng, một chuyện không tưởng không thể nào xẩy ra trong thực tế. Bởi vì Việt Nam - cũng như ba nước Cộng sản khác còn lại hiện nay là Bắc Hàn, Trung Quốc và Cuba – không cùng hoàn cảnh với Đông Đức, không hội đủ những yếu tố để sự chuyển biến đó xẩy ra.

Thực vậy, thứ nhất Đông Đức – cũng như những nước Đông Âu khác - hội đủ những điều kiện mà nước ta không có. Thứ nhất, dân chúng Đông Đức thuộc giống người Tây Phương có truyền thống trọng dân chủ tự do, hơn nữa họ đã và đang phải chịu cái ách đô hộ của Liên Sô. Ý thức chủ quyền và lòng yêu nước, cộng thêm với sự yêu chuộng tự do dân chủ đã thôi thúc họ đứng lên đòi lật đổ chính thể Cộng Sản, một chính thể đã chỉ mang lại sự bất hạnh cho họ về cả cuộc sống vật chất lẫn tinh thần. Khác với Việt Nam, một số nhỏ người dân Đông Đức đã xin được phép qua Tây Đức thăm họ hàng và họ biết rõ rằng cuộc sống ở bên kia bức tường Berlin tốt đẹp hơn nhiều. Chẳng vì thế mà hàng ngàn người đã liều mạng chạy qua Tây Đức, hàng trăm người bị bắn chết và vô số người bị bắt lại và bỏ tù. Chính vì muốn ngăn cản sự trốn đi của người dân Đông Đức mà chính quyền Cộng Sản đã cho xây lên bức tường Berlin. Mà ngay cả sau khi có bức tường này người dân Đông Đức vẫn còn tìm cách trốn thoát như đào hầm dưới bức tường hay dùng khí cầu hoặc diều lớn đề bay qua. Thật là những cuộc “vượt biên” ly kỳ rung rợn – nguy hiểm không kém những cuộc vượt biên, vượt biển của người dân Miền Nam chúng ta - đã được báo chí tây phương tường thuật lại khi xưa.

Thứ hai giữa Đông và Tây Đức – cũng như giữa Bắc Hàn và Nam Hàn - không có cuộc chiến tranh tương tàn, Đông Đức không có tham vọng thôn tính Tây Đức, mà dù nếu có tham vọng đó thì cũng không thể thực hiện vì phía Tây Phương sẽ không chấp nhận một sự gây hấn của Đông Đức khi mà quân Mỹ Anh Pháp có lực lượng ở Berlin, và Liên Sô không có gan gây ra một cuộc bùng nổ có tình cách một cuộc đại chiến. (Tại Đại Hàn ngay từ khi có sự phân chia, quân đội Mỹ đã có mặt ở Nam Hàn và nhất là ở Nhật Bản và Phi Luật Tân nên Trung Cộng không dám xúi dục và Bắc Hàn không dám ho hoe)

Trái lại ở Việt Nam, sau 1954 chế độ Cộng Sản Hà Nội áp dụng một chính sách đàn áp tư tưởng, làm ngu người dân bằng những phương thức vừa tuyên truyền nhồi sọ vừa đe dọa khủng bố tinh thần, vừa áp bức về mặt thể xác. Những kẻ chống đối đều bị triệt tiêu, cho đi cải tạo hay thủ tiêu, người dân luôn luôn sống trong một tình trạng sợ hãi, nhà nước nói gì cũng phải nghe theo, nói láo cũng phải tin, không còn biết đâu là sự thật. Dân trí miền Bắc vốn đã thấp, nay qua những chính sách giáo dục nhồi sọ, chỉ hiều biết một chiều, ăn nói như con vẹt, nghĩ theo cái gì nhà nước bảo, nên đâu còn ý thức thế nào là tự do dân chủ, thế nào là quyền lợi của con người? Hơn nữa sống trong tình trạng chiến tranh luôn luôn bị buộc phải hy sinh, người dân không còn cuộc sống bình thường, không còn biết thế nào là hạnh phúc sung sướng và ấm no. Vì bị nhồi sọ, bị lừa phỉnh hết năm này sang năm khác nên bộ óc đã bị dần độn, họ không còn biết đâu là phải đâu là trái, cái gì đúng cái gì sai. Bộ máy tuyên truyền của chế độ nói rằng dân Miền Nam bị kìm kẹp, sống khốn khổ, không có tự do, không có cơm ăn áo mặc mà họ cũng tin. Người dân tin thế nên thậm chí những người có gia đình di cư vào miền Nam cảm thấy sót sa cho những người thân bị đói khổ, bị đế quốc và chính quyền “ngụy” bóc lột, chà đạp nhân quyền…

Vì muốn bưng bít thông tin, Miền Bắc đâu dám cho ai vào Nam thăm gia đình nên người dân miền Bắc đâu có biết rằng xã hội miền Nam là một xã hội tự do dân chủ có một chính sách nhân bản, giáo dục kinh tế phát triển cao gấp bao nhiêu lần Miền Bắc, đời sống còn người được hưởng những tự do căn bản, tư tưởng phóng khoáng, văn hóa cao, được hấp thụ những nếp sống văn minh tiến bộ nhất của Tây Phương. Bởi vì nếu biết thì cũng đã có một làn sóng người bỏ trốn đi vào miền Nam như tại Đông Đức người ta trốn sang Tây Đức vậy.

Chế độ phong toả thông tin làm cho ngay cả những người biết sự thật cũng phải câm miệng bởi vì mở miệng ra là bị họa. Một số ít người đi du học, đi công tác, hay đi làm ở các nước ngoài, những cán bộ Cộng Sản gộc vào B làm nhiệm vụ này nọ tất nhiên biết rõ rằng Miền Nam Tự Do có một mức phát triển như thế nào, người dân ở Miền Nam sướng khổ ra sao, nhưng khi về nước hay trở lại A phải câm như hến, đâu dám tiết lộ những gì mình thấy hay nghe được? Chế độ bưng bít thông tim còn đi đôi với một kế hoạch qui mô tuyên truyền cố tình nói sai sự thật, lăng mạ chế độ miền Nam làm cho người dân ngu muội mù quáng tin theo hoặc vì lý do nào đó mà biết được sự thật thì cũng không dám hé môi, chỉ giữ trong đầu cho riêng mình - trường hợp này rất hiếm, mà họ có nói ra thì cũng không ai tin.

Chính vì bị chính sách ngu dân làm cho mê muội nên người dân Miền Bắc không hề nghĩ đến chuyện đòi hỏi tự do dân chủ, một khái niệm mà họ không hề biết là gì. Vì số phận họ đã được an bài, họ chấp nhận cuộc sống yên phận đâu có muốn gì hơn? Biểu tình xuống đường để đòi quyền sống tự do, quyền dân chủ, đòi hạnh phúc là một chuyện không tưởng, trong khi ở miền Nam, no cơm ấm cật, những sinh viên học sinh nghe theo lời xúi dục của Việt Cộng tha hồ xuống đường đả đảo này nọ, đòi hởi chuyện này chuyện kia. Thật là chuyện vô lý nhưng sống trong một chính thể tự do giới trẻ được những quyền đòi hỏi, quyền nói lên tiếng nói của họ, mặc dù họ không ý thức rằng họ đang sung sướng gấp trăm lần những người đang sống ở Miền Bắc. Bây giờ chế độ tự do của Miền Nam đã xụp đổ, một phần chính vì những hành động phá rối, tiếp tay cho địch của họ, thì họ mới sáng mắt ra nhưng đã quá muộn.

Hơn nữa, khác hẳn với Đông Đức, tại Miền Bắc không có sự hiện diện của lực lượng ngọai bang (Liên Xô hay Trung Quốc) nên người dân không cảm thấy mình bị đô hộ, mặc dù về mọi mặt Bắc Việt lệ thuộc vào hai đàn anh vĩ đại là Liên Xô và Trung Quốc. Cuộc chiến xâm lăng Miền Nam kéo dài làm cho người dân Miền Mắc ngày càng mệt mỏi và càng hận thù “đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy ở Miền Nam” Thay vì nghi đến chuyện tự giải phóng mình thì người dân Miền Bắc phải hy sinh để “giải phóng Miền Nam.” Đó là điều vô lý mà họ không nhận thức được cho đến khi Cộng Sản chiếm được Miền Nam. Năm 1975, mặc dù Cộng Sản huyênh hoang rằng chúng đã giải phóng Miền Nam nhưng kỳ thực ra chính người dân Miền Bắc đã được giải phóng: Họ bỗng mở to mắt để nhìn thấy sự thật và để ý thức rằng suốt hai mươi năm trước họ đã bị lừa, đã mê muội nghe theo những lời phỉnh gạt của nhà nước Cộng Sản – nhưng cũng vẫn không dám nói ra.

Như vậy thì việc luyến tiếc rằng vào cuối thập niên 1980 dân Việt Nam đã không noi theo gương những nước Đông Âu nổi dậy lật đổ chính quyền Cộng Sản  thật ra chỉ là một sự hoài vọng không căn cứ, thấy người ta làm được chuyện mà mình không làm được thì thèm thì tiếc. Bản chất người dân Việt Nam là ù lì, có sao hưởng vậy, chiụ đựng tối đa. Chẳng thế mà hai mươi năm người dân Miền Bắc sống khổ sỡ cùng cực mà đến những năm sau 75, họ thấy rõ nền dân chủ tự do của Miền Nam nhưng họ vẫn chưa sáng mắt ra, chưa có ước vọng tự do dân chủ hạnh phúc, họ vẫn chưa dám hành động. Người dân vẫn ngu muội tin tưởng vào chế độ Xã hội Chủ nghĩa, vẫn tự hào với sự hy sinh của họ và cho rằng họ đã có công trong cuộc xâm chiếm Miền Nam. Khi người dân mù quáng tin tưởng ở chế độ thì làm sao chúng ta có thể mong có một cuộc nổi dậy? Đó là cái nghịch lý của bi kịch Việt Nam.

Còn như nói rằng rất tiếc người Mỹ đã nhúng tay vào việc làm xụp đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa chứ nếu không thì Miền Nam đã bắc nhịp cầu thương thuyết với Miền Bắc để thống nhất đất nước trong hoà bình, thì quả nhiên đó là một lời nói thật ngây thơ! Vì Cộng Sản Bắc Việt không bao giờ thoả hiệp với quốc gia, không nhân nhuợng với phe quốc gia mà chúng coi là phe đich, đâu đời nào thương thuyết thực sự, chúng đâu có muốn hòa bình với miền Nam? Chúng đâu coi trọng quyền lợi của quốc gia dân tộc? Chúng chỉ biết đến quyền lợi của Đảng Cộng Sản của chúng! Chúng muốn nuốt chửng Miền Nam, nhuộm đỏ cả nước ta. Ông Ngô Đình Nhu có tài nào mà thương thuyết với Hồ Chí Minh Lê Duẩn Trường Chinh Phạm Văn Đồng để chúng từ bỏ quyền hành, thiết lập một chính phủ không Cộng Sản trên cả nước ta? Kinh nghiệm đau thương của những năm xưa khi Hồ Chí Minh lừa gạt những nhà ái quốc không Cộng Sản ngoài mặt nhận thoả hiệp nhưng bên trong tìm cách ám hại những người này chưa đủ rõ hay sao mà chúng ta vẫn còn mơ tưởng? Những trí thức đã dại dột theo “Cách Mạng” sau này vừa ho hoe đã bị diệt hết đó thây? Những kẻ may mắn sống sót thì cũng chua sót trong lòng vì đã lỡ dại, nhưng vì muốn sống sót nên phải im và cố theo con đường mà bọn Cộng Sản vạch ra. Đến những ngày cận kề của Tháng Tư năm 1975, vẫn còn một số nhà lãnh đạo, chính tri gia ở Miền Nam - thuộc cái gọi là thành phần thứ ba - kỳ vọng ở một sự thương thuyết với Cộng Sản, thiết lập một chế độ trung lập - hay liên hiệp gì đó - ở một phần của Miền Nam! Đấy cũng là ước mơ ngây thơ của họ, để rồi sau đó họ mới ý thức rằng Cộng Sản không chấp nhận bất cứ chế độ nào không Cộng Sản. Ngay cả Cộng sản nửa mùa như Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng không được chấp nhận nên chỉ trong vòng có một năm thì bị xóa sổ, làm cho một số trí thức ngây thơ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bỗng ngã ngửa ra khi nhận thức rằng họ chỉ là những con cờ, những gì họ mơ tưởng trước đây - một miền Nam tự trị theo Cộng sản Hà Nội - không bao giờ có thể trở thành sự thật.

Kết Luận:
Chúng ta không thể mong người dân nổi dậy lật đổ chính quyền Cộng Sản Hà Nội nếu không có một người có quyền hành ngay trong nội bộ Đảng Cộng Sản đứng ra khơi động và lãnh đạo cuộc nổi dậy. Mặc dù Cộng Sản Việt Nam nay đã thoái hóa nhưng chúng vẫn dùng chủ thuyết Mác Xít Lê Nin Nít để hù người dân, chúng vẫn áp dụng những phương thức cai trị chuyên chính theo đường lối Cộng Sản, vẫn sẽ không bao giờ chấp nhận cho dân hưởng tự do dân chủ, không bao giờ công nhận những quyền của con người mà cả thế giới đã công nhận. Lý do thật đơn giản là vì quyền lợi của Đảng Cộng Sản, nói cách khác, quyền lợi củ giai cấp mới bao gồm tất cã những đảng viên Đảng Cộng Sản và những bọn đầy tớ tay sai. Chúng không bao giờ tự nhiên từ bỏ quyền lực chỉ vì những quyền lợi kinh tế - tiền bạc, danh vọng, lối sống xa hoa, thói hư tật xấu…- mà chúng đang được hưởng nhờ quyền cai trị độc ác của chúng.

Bên Liên Sô, vào cái ngày xa xưa nào đó, đã có một Boris Yelsin* nổi nóng vì sự thối nát bất lực và độc tài của chế độ nên đã ngồi trên xe tăng tu Vodka chĩa họng sung đại bác vào tòa nhà Quốc hội đòi giải tán quốc hội, dẹp bỏ đảng Cộng Sản, thiết lập một nền dân chủ thật sự. Boris Yelsin đã từ bỏ quyền lợi cá nhân, để nghĩ tới quyền lợi của người dân, của đất nước. Ông đã nhìn thấy sự vô lý của lý thuyệt Mác Xít, cái lý thuyệt mơ tưởng chỉ đem sự đau khổ khốn cùng đến cho người dân Nga nên ông tức giận. Ông đã từ bỏ cái gốc Cộng Sản gộc của chính ông, quên đi cả cái quá trình tranh đấu của riêng mình, để nhìn về tương lai của cả dân tộc Nga …

Cũng ngày xửa ngày xưa khi nghe ông Võ Văn Kiệt nói này nói nọ, có người – lại ngây thơ nữa! - cũng mong ông là một thứ Yelsin Việt Nam! Nhưng ông không thể là Yelsin được vì ông đã già, đã về hưu, ông đã bắt đầu nhận thức ra chân lý quá muộn, ông có muốn cũng chẳng còn làm gì được nữa! Và gần đây lại nghe Đại Tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi chính phủ này nọ nhưng chính phủ cứ làm ngơ! Ông này cũng đã hết thời từ lâu rồi! Có vài vị tướng khác, vài đảng viên Cộng Sản giờ đã mở mắt nhìn thấy chân lý cũng kêu gọi tự do dân chủ. Những người này, như chúng ta, chỉ có cái miệng để chống đối, đòi hỏi này kia, làm sao lung lay được cả một thành trì vững chắc như chế độ Hà Nội?

Nhưng nói thế không phải chúng ta hết hy vọng. Theo chính cái phép biện chứng Mác Xít thì cái gì cũng sinh ra lớn lên rồi tàn đi. Vậy thì không thể không có ngày Cộng Sản Hà Nội chết! Riêng tôi thì hy vọng rằng với hiểm họa Việt Nam sẽ là nô lệ của Trung Quốc - Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Trung Quốc? – thì sớm có một vị anh hùng hiện ra làm giống như Boris Yelsin đã làm bên Nga năm xưa cứu nguy dân tộc Việt Nam trước khi đã quá muộn.

Hướng Dương txđ
Ngày 24 tháng 11 năm 2009

 

* Mr. Yeltsin became a hero to the Russian people and a world figure that day in August 1991 when he climbed atop a Soviet Army tank and faced down right-wing forces who were threatening to overthrow Mr. Gorbachev, the last Soviet leader. Long a thorn in Mr. Gorbachev’s side and soon to become his most powerful rival, on that day Mr. Yeltsin was Mr. Gorbachev’s ally. “Citizens of Russia,” Mr. Yeltsin declared. “We are dealing with a right-wing, reactionary, anticonstitutional coup d’etat. We appeal to citizens of Russia to give an appropriate rebuff to the putschists.”Thousands of Muscovites came out in the streets to support him, and the coup was defeated. But not long afterward he became the instrument of Mr. Gorbachev’s downfall and with it the dissolution of the Soviet state.

 Lời dịch:
Ông Yelsin trờ thành một vị anh hùng cho dân chúng Nga và được cả thế giới biết đến vào cái ngày trong tháng Tám năm 1991 ấy, khi leo lên một chiếc xe tăng của quân đội và đối đầu với những lực lượng cực hữu đang đe dọa lật đổ ông Gorbachew, nhà lãnh tụ Sô Viết cuối cùng. Là một cái gai từ lâu mọc bên sườn ông Gorbachew và sớm muộn gì cũng trở thành đối thủlợi hại nhất của ông này, vào cái ngày hôm đó ông Yelsin lại là đồng minh của ông Gorbachew.
“Hỡi Công dân nước Nga!” ông Yelsin tuyên bố, “Chúng ta đang đối đầu với một cuộc chỉnh lý đi ngược lại hiến pháp do cánh hữu phản động chủ mưu! Tôi kêu mọi công dân Nga hãy đẩy lui bọn cướp chính quyền này!”Hàng ngàn dân Moscow đã xuống đường ủng hộ ông và vụ chỉnh lý không thành.Và chẳng bao lâu sau ông là động cơ lật đổ ông Gorbachew và làm xụp đổ cả nhà nước Sô Viết.

Trở lại Đầu Trang