Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Hồi tưởng về những chuyến đi
bài của Bạch Vân



Kỳ nghỉ lễ Phục sinh vừa rồi, một cô bạn rủ tôi đi Melbourne chơi vài ngày. Phượng (tên cô bạn của tôi) có vài người thân ở đó nên mỗi năm hay về thăm. Con gái của Phượng cũng đi cùng với chúng tôi, và đã book vé xe đò cho mọi người qua Internet.

Tôi đón xe ở trung tâm Sydney khoảng 7 giờ tối, sau đó xe ghé vài địa điểm nữa thì đến trạm Parramatta nơi hai mẹ con Phượng đứng chờ. Sau khi đón đủ người, tài xế cũng nói qua về các điểm mà xe sẽ dừng để mọi người ăn tối hoặc nghỉ một lát. Melbourne cách Sydney khoảng 1000km, chúng tôi chỉ việc ngủ một giấc, chừng 6 giờ sáng là tới. Tài xế cũng khuyên mọi người không được hút thuốc hoặc tháo giày trên xe (xe có máy lạnh, chắc sợ hành khách chết ngộp vì mùi hôi của bít tất!). Ông ta nói đùa là ai vi phạm sẽ bị cho xuống giữa đường.

Xe chạy qua nhiều thị trấn trong cảnh yên bình, tĩnh lặng của ban đêm, chỉ có các tiệm ăn như McDonald hoặc trạm xăng là còn mở cửa. Nếu đi vào ban ngày cũng vậy, dọc đường chỉ thấy toàn những cánh đồng cỏ, xa xa mới có một căn nhà. Các nông trại đồn điền đều vắng vẻ, mọi thứ đã sắp đặt sẵn, cả hệ thống tưới nước cũng tự động, hiếm thấy bóng dáng một ai.

Sáng hôm sau chúng tôi đến Melbourne, chị của Phượng đã đi holiday và giao chìa khóa nhà lại để chúng tôi ở. Ngày nào chúng tôi cũng đi dạo phố và mua sắm. Tôi nhận thấy các tiệm quần áo ở đây có nhiều kiểu áo mùa Đông đẹp và rẻ hơn Sydney. Còn các khu phố VN cũng đông đảo, tấp nập cảnh mua bán. Lạc vào những nơi này cứ tưởng mình đang ở chợ Bến thành.

Ngày vui qua mau, đã đến ngày trở về. Do thấy đi xe đò ngồi lâu mỏi quá nên chúng tôi chọn cách về Sydney bằng xe lửa. Hành lý lúc về còn nhiều hơn lúc đi, vì ‘chiến lợi phẩm’ là một lô quần áo lạnh đã mua được.

Buổi tối lúc rời Melbourne, trong lúc đứng chờ P. đi gửi hành lý ở ga Southern Cross, tôi nhìn quanh nhà ga và chợt nghĩ đến em bé Pumpkin đến từ New Zealand vào một ngày giữa tháng Chín năm 2007 và em đã bị bố ruột là Nai Yin Xue bỏ rơi tại đây. Bố của em là một võ sư người Hoa đã giết vợ dấu vào cốp xe rồi đem con từ NZ trốn qua Úc. Ông ta bỏ em tại trạm xe lửa này rồi sau đó đáp máy bay sang Mỹ. Pumpkin (cái tên do cảnh sát Úc đặt cho em vì em mặc áo có thương hiệu Pumpkin Patch, tên tiếng Hoa của em là Qian Xun) lúc đó được ba tuổi, cảnh trên Ti vi trích từ máy thu hình giám sát của nhà ga cho thấy một cô bé đứng ngơ ngác giữa dòng người qua lại, và rồi được cảnh sát nắm tay dắt đi. Pumpkin về sau được ông bà ngoại từ Hoa Lục qua đón về nuôi. Còn bố của em đã bị bắt và vừa rồi tòa án NZ đã phán quyết ông ta phạm tội sát nhân.

Lên toa rồi chúng tôi mới nhận thấy là khỏi gửi hành lý cũng được, vì các hàng ghế chỉ chiếm hơn nửa toa, còn lại là khoảng trống dư chỗ để va ly trên sàn. Con gái của Phượng thì mãi nghe nhạc trên máy iPod, còn chúng tôi tha hồ trò chuyện và cho là mình đã quyết định đúng khi chọn đi xe lửa, chỗ ngồi rộng rãi, có thể đi tới lui cho dãn gân cốt, rồi lại ăn uống lúc nào cũng được. Trên xe lại có toa bán thức ăn nhưng P đã chuẩn bị đủ cả, nào xôi bánh rồi nước trà, và có cả muối ớt để ăn với trái cây.Thật ra nếu đi máy bay thì giá vé còn rẻ hơn nhưng chúng tôi cũng muốn đi xe lửa xuyên tiểu bang cho biết, vả lại cũng chỉ ngủ một đêm là tới.

Ăn uống xong xuôi rồi mới đến việc ngủ, bây giờ mới thấy là khó ngủ. Xe đò chạy êm ru không nghe một tiếng động, còn xe lửa thì tuy cửa cũng kín mít nhưng vẫn nghe được tiếng ồn xập xình của nó! Một cô gái trong toa đã tìm ra một cách để ngủ cho thoải mái: cô ta nằm ngay ở chỗ sàn trống phía sau. Nhân viên đi qua cũng không nói gì. Tôi nghĩ bụng không biết cô này có từng đi VN hay không, mà rành cái kiểu ngủ dưới sàn như vậy.

Đêm đã khuya mà tôi vẫn chưa ngủ được; tôi miên man suy nghĩ, nhớ về những chuyến đi của tôi ở VN, vào những ngày xa xưa lắm…


***

Chuyến đi xa lần đầu trong đời của tôi là khoảng năm 1960, lúc tôi chừng ba hoặc bốn tuổi, một bà bạn của Me tôi là bác T. đưa cô em bịnh nặng từ Phan thiết vào bệnh viện Sài gòn và nhờ Me tôi đi cùng, và Mẹ dẫn tôi theo. Buổi tối hôm trước mọi người đi lối tắt ven theo đường rầy đến nhà ‘sếp ga’ để mua vé trước. Sáng hôm sau thì ra ga để khởi hành. Tôi còn nhớ toa của chúng tôi là phòng riêng có giường nằm, và có một cô bé dắt một người hát xẩm đến trước cửa phòng để xin tiền. Đến Biên Hòa hay Thủ Đức gì đó, có thân nhân của bác T. ra đón và đưa mọi người đi ăn tối.

Sau đó tôi được theo Mẹ vào Sài Gòn nhiều lần, Mẹ tôi làm nữ hộ sinh nên hay vào dự các khóa tu nghiệp ở bệnh viện Từ Dũ. Có lần cậu tôi từ Cần Thơ lái xe lên đón hai mẹ con về chơi nhà cậu vài ngày. Nhận xét của tôi là đường xá Sài Gòn thật rộng đẹp, nhiều tiệm buôn to lớn, lúc đó tôi mới biết đọc nên hay đọc tên các cửa tiệm lúc đi ngang qua, Mẹ tôi cười bảo: “Con đọc không xuể đâu”. Có lúc Mẹ tôi cần tìm mua thứ gì đó nên tới rất nhiều tiệm thuốc tây, chị tôi với tôi đi theo, đến tiệm nào hai chị em cũng bước lên cái bàn cân đứng, kê gần cửa, để coi mình nặng bao nhiêu.
Những năm sau đó ít có người đi xe lửa vì mất thì giờ, lại dễ bị Việt Cộng đặt mìn. Trạm Phan Thiết rốt cuộc bị đóng cửa, mỗi khi vào chơi nhà một người bạn gần đó tôi thấy quang cảnh nhà ga thật tiêu điều vì bỏ hoang lâu ngày, cỏ mọc cao che lấp cả cửa vào. Thời hoàng kim của nhà ga này có lẽ là những năm 1930s, lúc thi nhân Hàn Mặc Tử từ Quy Nhơn đánh điện tín hẹn gặp Mộng Cầm ở ga Phan Thiết rồi cùng nhau đi thăm Lầu Ông Hoàng.

Đường xe đò liên tỉnh cũng không an toàn vào những năm chiến tranh cao điểm. Có lần Mẹ tôi đi thăm chị tôi ở Phước Long (khoảng 1972), cả xe bị ‘mấy ổng’ mời vô núi, cho ăn cháo, coi phim tuyên truyền rồi mới thả cho đi. Vì thế mỗi khi chị tôi về thăm nhà thì hay đi nhờ máy bay quân sự. Và vì đi nhờ không có giấy chính thức, nên có một lần gặp rắc rối khi về đến Tân Sơn Nhất, bị vô bót cảnh sát Đô Thành ngủ một đêm.

Con đường từ Sài Gòn về Phan Thiết hay bị ‘Việt Cộng đắp mô’. Ban đêm du kích ra đắp một mô đất nhỏ ở giữa đường, nhất là ở đoạn Rừng Lá, gần Long Khánh. Những vụ như vậy làm xe cộ chậm trễ, vì phải chờ quân đội dò mìn rồi mới cho qua được. Có lần khoảng năm 69, tôi và Thuận (là cháu gái của ba tôi đang ở Phan Thiết để học Tú Tài) đem một đứa bé (em họ của Thuận) đi xe đò vào Sài Gòn, gặp lúc bị đắp mô, xe không chạy lại càng thêm nóng nực. Đứa bé khóc nhè, mấy bà già trên xe cằn nhằn: “Có con nhỏ mà không biết dỗ cho nó nín”, làm Thuận mặt buồn thiu. Ngoài những người lính Việt Nam còn có những người Mỹ đeo súng đi tới đi lui nhìn ngó vào các xe, có một người lính Mỹ mua cà rem cho mấy đứa con nít vây quanh và thích thú nhìn chúng ăn. Cả tiếng sau họ mới cho xe đi sau khi đã dẹp xong cái mô đất.

Khoảng một vài năm sau tôi lại có dịp từ Phan Thiết vào Sài Gòn với chị của tôi, lần này bằng máy bay Air Việt Nam. Tiền vé máy bay khứ hồi lúc đó là 700 đồng mỗi người. Tôi với chị tôi đi đến đại lý của Air Việt Nam, gần ngân hàng Việt Nam Thương Tín bên phố. Từ đại lý có xe đưa lên phi trường Phan Thiết.

Phòng đợi của phi trường cũng là nơi có quầy bán thức ăn, và có nhiều bàn với khách ngồi rải rác, chúng tôi ngồi uống nước trong lúc chờ máy bay đến. Có vài quân nhân Mỹ trong quán, vì phi trường cũng có căn cứ trú đóng của quân đội Mỹ. Tôi nhìn bảng tên trên áo của họ, mà nhớ tới người hàng xóm của tôi có lãnh thầu thêu tên cho lính Mỹ, người thêu được trả công 10 đồng cho mỗi cái tên, tương đương giá một thanh sô cô la. Có một lần họ đưa thử vài cái cho Thuận thêu, sau đó Thuận dùng tiền đó mua kẹo rượu (là những viên sô cô la mà bên trong là rượu ngọt lỏng) và chia cho tôi.

Có một người lính Mỹ đi tới các bàn mà hành khách đang ngồi. Đến bàn nào anh ta cũng vui vẻ bắt tay từng người, và giới thiệu tên của anh ta. Đến bàn của chị em tôi, chị tôi cũng lịch sự bắt tay anh ta, và giới thiệu tên mình. Anh ta cứ đi lòng vòng chào hỏi khắp phòng. Một lát sau có hai người quân cảnh Mỹ hối hả đi vào, họ đội nón sắt có chữ AP (Army Police) trên nón, và lập tức áp giải anh ta ra khỏi phòng. Không ai hiểu lý do tại sao. Bây giờ tôi nghĩ có thể vì lúc đó anh ta say rượu, nhưng nếu có thì cũng không ai nhận ra, vì cử chỉ của anh ta tuy hơi quá thân thiện nhưng không có vẻ gì là suồng sã cả.

Sau đó chúng tôi ra sân bay, cô chiêu đãi viên hàng không Air Việt Nam mặc áo dài màu thiên thanh đứng đón dưới chân thang máy bay, chị em tôi cũng mặc áo dài. Đó là lần đầu tiên tôi đi máy bay, đường bay ngắn nên họ chỉ phát nước uống, bánh bích quy và chuối. Đến Sài Gòn có Thuận đi taxi ra đón chúng tôi ở phi trường Tân Sơn Nhất.


***

Sau năm 75 thì việc đi lại rất khó khăn. Đường máy bay dân dụng ngưng hoạt động đã đành mà việc đi xe đò cũng rất nhiêu khê. Phải ra công an xin giấy đi đường, rồi còn xếp hàng cả ngày để mua vé. Chỉ một đoạn đường 200 km Phan Thiết-Sài Gòn mà người ta đi bằng đủ loại phương tiện: xe đạp, honda, xe đò, rồi xe chạy bằng than (các lò gaz hồi xưa bây giờ được cưa lại làm thùng than gắn ở đuôi xe) mỗi khi xe chạy là than hồng rơi lả tả trên đường. Có lần Ba tôi cũng đi honda vào SG, mới tới Long Khánh thì trời mưa nên ngã xe và gãy xương bả vai, cũng may là ở Long Khánh có nhà dì tôi ở đó. Sau một tuần dưỡng sức ông trở về Phan Thiết với một bên vai bị băng bột, làm cho Mẹ tôi buồn lòng quá đỗi.

Đường xe lửa bấy lâu bỏ hoang như nàng công chúa ngủ trong rừng, lúc đó lại được mở ra, cũng làm giảm bớt áp lực giao thông phần nào. Nhưng vì cầu nhiều hơn cung, phải bán vé không hạn chế nên dân chúng ngồi chen chúc như cá mòi khắp sàn xe, bậc xe và cả trên nóc xe; còn cảnh chờ đợi trên sân ga thì y hệt như trong phim Dr. Jivago mà tôi đã xem trước 75 nói về thời cách mạng Liên Xô, trong đó có cảnh hàng ngàn người chờ chực xe lửa.

Thời gian đó tôi đang học ở Sài Gòn nên hay đi về bằng xe lửa nhiều lần mà lần nào cũng gặp ‘sự cố’. Một lần thì bọn trẻ quăng đá vào cửa sổ trúng một bà ngồi đối diện chị em tôi, làm bà ta bị lỗ đầu chảy máu. Một lần thì có đứa nhỏ bán rong nhân lúc tôi ngủ gật nên thò tay vào giỏ lấy mất một ít tiền. Chuyện như vậy là thường. Tới các trạm thì hành khách phải cúi rạp xuống hết và lấy tay che đầu, vì những người đi buôn quăng củi ào ào vô xe qua cửa sổ (thời đó điện gaz gì cũng cúp nên phải nấu ăn bằng than hoặc củi). Có lần xe lửa phải dừng lại cả tiếng, vì một cậu thanh niên ngồi trên nóc, tới một cây cầu có vòm gần Sài Gòn đã khom xuống cho đến khi xe lửa qua cầu nhưng cậu ta ngẩng lên sớm quá nên bị vòm cầu đánh văng xuống đất chết tại chỗ. Lại có một cậu ngồi ở bậc xe ngủ gật nên văng ra khỏi xe, cũng may là không chết. Còn có bà già nhân lúc xe lửa dừng, xuống để đi tiểu, tới khi xe lửa chạy rồi, đám con cháu bà nhoài người ra cửa sổ kêu thảm thiết bằng giọng ngoài Trung: “Mệ ơi Mệ”, mà ai cũng thấy là ‘Mệ’ còn ngồi xa xa ở giữa cánh đồng, không đứng lên được! Rốt cuộc thì xe lửa cũng dừng lại để những người ở toa chót lôi bà ta lên.

Vậy mà có một lần tôi có được cảm giác thật vui thích khi đi xe lửa từ Sài gòn về Phan thiết mà tôi còn nhớ mãi đến bây giờ. Đó là khoảng năm 1976, nhà nước tổ chức bầu đại biểu Quốc Hội lần đầu tiên trên toàn quốc. Lần đó, như để dằn mặt giới trí thức Sài Gòn và đề cao tầng lớp lao động vô sản, một công nhân đổ rác Sở Vệ Sinh được đề cử trong danh sách đại biểu của thành phố Hồ Chí Minh (tên của chị hình như là Nguyễn thị Thêu, tôi không nhớ rõ lắm). Ngày nào báo đài cũng ca tụng tiểu sử và thành tích của chị. Thể thức đi bầu của thành phố cũng rất dễ dàng (có sẵn tên 10 đảng viên trên phiếu bầu, chỉ việc gạch bỏ tên một người còn 9 người). Được nghỉ học vào ngày bầu cử nên tôi nghỉ thêm vài ngày và đã xin sẵn giấy đi đường, để về thăm nhà. Mờ sáng tôi đã xếp hàng đi bầu sau đó đón xích lô ra ga Sài Gòn, xế cửa chợ Bến Thành.

Bước lên xe lửa, tôi ngạc nhiên quá sức: toa xe hầu như trống trơn, chỉ có một vài người.Thì ra dân chúng không ai dám vắng mặt trong ngày bầu cử và đã nghỉ ở nhà hết để đi bầu! Điều bất ngờ này làm tôi cảm thấy mừng vô cùng. Thường ngày xe lửa chật như nêm, người ta quăng củi trên đầu tôi, người ta chen chúc sát bên tôi, người ta treo võng ở những chỗ nào có thể treo được, có người nằm dưới gầm ghế và thò tay nhéo chân tôi khi tôi vô ý dẫm phải họ. Vậy mà bây giờ các toa xe đều trống vắng như một con tàu ma! Xe lửa đã chạy rồi nhưng tôi vẫn chưa muốn ngồi, tôi đi tới đi lui khắp các toa. Tới các trạm cũng chẳng có ai lên, chỉ có vài người lên bán hàng. Tôi mua được một nải chuối chín để đem về làm quà. Xe chạy qua các rừng rậm hoang dã lúc trời đã xế chiều, ánh sáng mờ mờ xuyên qua đám cây lá, các nhánh cây quét loạt soạt vào thân xe, tôi nhìn ngắm phong cảnh ngoài trời và lúc đó mới cảm nhận hết tâm trạng hạnh phúc, tự do giữa cảnh núi rừng. Thật là một cảm giác nhớ đời! Về đến nhà trời đã tối mịt, cả nhà lúc đó đang ăn cơm tối dưới ánh đèn dầu lù mù vì cúp điện.

Vài hôm sau tôi trở về Sài Gòn, cũng là lúc có kết quả cuộc bầu cử. Lúc đi bầu tôi đã cố ý đánh trật để cho lá phiếu của mình bất hợp lệ. Bà cụ chủ nhà trọ của tôi, là một người Bắc di cư hồi 54, cũng nói là bà không biết cách bầu nên đã gạch tên vào bích chương treo tường trong phòng phiếu thay vì trong lá phiếu. Những chuyện vặt này dĩ nhiên không hề hấn gì đến kết quả bầu cử, và chị Thêu đã đắc cử vẻ vang.

(Nhiều năm về sau, tôi đã có dịp đi xe lửa hiện đại ở Tokyo, đi metro ngầm ‘không người lái’ ở Paris…mà vẫn chưa bao giờ có được cái cảm giác khoan khoái như lần đi xe lửa ở Việt Nam vào ngày bầu cử năm đó. Quả thật hạnh phúc là một cái gì rất là tương đối.)

Những chuyến xe đò Sài Gòn-Phan Thiết cũng bị lục xét triền miên, dù tài xế đã chạy vòng vèo trong rừng để tránh bớt các trạm. Thời đó hầu hết nghề nào cũng bị cấm vì cho là bóc lột, không làm ra của cải vật chất. Nhưng dễ gì có được việc làm với nhà nước, dù là với đồng lương chết đói. Thành ra hậu quả của việc cấm đoán này là số người đi buôn càng nhiều hơn trước và đi thường xuyên hơn, vì mỗi lần họ chỉ đem được rất ít, bó vào người. Từ miền Tây họ đem thịt cột vào bụng vào đùi, từ Đà Lạt đem cà phê lận trong ngực, còn từ Phan Thiết thì buôn khô mực. Mực khô thường được gói trong bao dày (loại bao xi măng) để khỏi nghe mùi rồi quấn vào người. Có lần tôi ngồi gần hai cô có vẻ là hai chị em, tới mỗi trạm xét thì cả xe phải xuống hết để họ lên lục giỏ, mỗi khi cô ngồi kế bên tôi bước xuống thì đùi cô như cái chày, thúc vào đùi tôi đau điếng. Tôi biết ngay là cô bó mực vào đùi. Tới một trạm chót gần Sài Gòn thì một cô nói với một bà già trên xe: “Tới đây được rồi, thôi mẹ về đi”. Bà mẹ xuống xe để đón xe khác quay về. Thì ra hai cô đem bà mẹ theo để nếu bị bắt thì bà sẽ nhận thay và dễ năn nỉ hơn.

Đi lại bằng phương tiện gì cũng khó khăn, nên có một bà hàng xóm của tôi đã ‘vận dụng sáng tạo’ ra một kiểu di chuyển mới, như sau. Số là phía sau nhà của chúng tôi là nhà của một gia đình y sĩ tên N., trước đây có tập kết ra Bắc, chị vợ gốc người Hàm Tân. Gọi là y sĩ vì họ không có bằng cấp như bác sĩ ‘Ngụy’ trước kia, mà chỉ là y tá sau một thời gian phục vụ và ‘chuyên tu’ thì trở thành y sĩ. Mẹ của chị thỉnh thoảng từ Hàm Tân vào thăm con cháu và ở lại một vài tuần. Một buổi tối bà sang nhà chúng tôi chơi, và chào từ giã cả nhà để mai về lại Hàm Tân. Lúc đó tôi cũng rảnh nên ngồi trò chuyện với bà một lát. Tôi hỏi bà:
“Vậy bác đã mua trước được vé xe chưa?”
Hỏi thăm cho có lệ vậy thôi, chứ tôi nghĩ thầm rằng con của bà này làm cán bộ thì thể nào cũng chạy được cho bà một tờ giấy giới thiệu để đi đường. Không ngờ bà ta thản nhiên trả lời:
“Tôi đi bộ.”
“Bác đi bộ?!”
“Phải, chứ chờ chực ngoài bến xe cả nửa ngày mới mua được cái vé, rồi xe chạy cà rịch cà tang, qua mấy cái trạm xét tới xét lui thì đến tối mới về được tới nhà. Còn tôi đi bộ thì đến tối cũng về tới nhà. Bữa hổm từ Hàm Tân vào đây tôi cũng đi bộ.”
Tôi hỏi thêm thì được biết là sáng sớm hôm sau, chừng ba bốn giờ sáng thì bà sẽ từ nhà đi bộ ra biển Thương Chánh (nội từ nhà ra biển cũng khoảng ba cây số) rồi cứ thế rẽ phải về hướng Nam đi dọc theo bờ biển mà về đến Hàm Tân.

Quận Hàm Tân nằm trong khoảng giữa Phan Thiết và Long Khánh, nếu đi xe đò theo đường quốc lộ chưa tới 40km là đến ngã rẽ trái, thêm khoảng vài cây số nữa mới đến nơi. Không biết bà già này đi bộ theo đường bờ biển thì có gần hơn hay không.
Kỷ lục của bà đã ăn đứt anh em chúng tôi, vì chúng tôi có lần cũng đi bộ nhưng ngắn hơn nhiều. Khoảng năm 1979, tôi theo anh của tôi ra Nha Trang chơi vài ngày. Lúc về lại, xe lửa chỉ dừng ở trạm Mường Mán rồi đi thẳng Sài Gòn, chúng tôi phải xuống để chờ xe khác. Từ Mường Mán về Phan Thiết chừng mười mấy cây số, mà ba tiếng nữa mới có chuyến. Lúc đó chừng bốn giờ chiều. Nóng lòng về nhà nên chúng tôi đi bộ, mất khoảng hơn ba tiếng thì về đến nhà.

Cũng trong một chuyến xe vào Sài Gòn mà tôi đã chứng kiến một vụ ngộ sát, mà nạn nhân là một hành khách trên xe.Đó là khoảng năm 1985, lúc tôi hay vào miền Tây để vượt biên. Thời đó chưa có điện thoại tư nhân, nên chị họ của tôi (chị Bé) có nhiệm vụ về Phan Thiết kêu tôi mỗi khi có chuyến đi gấp. Việc xe cộ cũng dễ dàng hơn lúc trước, vì mới dẹp chế độ bao cấp, một vài xe đò tư nhân được phép hoạt động.

Lần đó tôi với chị Bé đi trên một chiếc xe đò lớn, ông tài xế có mang vợ đi theo, bà ta ngồi ở phía trước, cạnh cửa lên xuống. Tôi nhận thấy bà ta mới chính là người nắm quyền, bà ta sai bảo lơ xe, và lo mặc cả và thu tiền với những hành khách đón dọc đường. Ông chồng chỉ có mỗi một việc là lái xe mà thôi.  Lúc xe chạy gần đến Long Khánh, tôi thấy có một người bộ đội, vai đeo súng, ba lô để dưới chân, đang đứng ở bên đường và giơ tay ra hiệu cho xe dừng lại. Ai cũng biết bộ đội là những người chẳng có tiền bạc gì, thì một là họ xin đi quá giang không trả tiền, hai là nếu có trả thì chẳng thấm gì so với những người có hàng hóa. Đó là chưa kể cũng không mấy ai có cảm tình với họ.

Ông tài xế đã chạy chậm chậm sắp dừng lại thì bà vợ ông ta bỗng gằn giọng và rít lên (tôi nhớ nguyên văn câu nói của bà ta):
“Trời ơi đón cái thứ đó làm gì? Chạy luôn đi!”
Thế là ông ta lại rồ ga chạy tiếp qua mặt anh ta, chỉ vài giây sau thì nghe 'đoàng' môt tiếng. Ai nấy đều hết hồn, tôi nghĩ là tên bộ đội vì tức giận nên bắn chỉ thiên để dọa nạt vậy thôi, ai dè một chị la lên: “Trời ơi bà già chết rồi!”. Xe lập tức dừng lại, mọi người nháo nhào túa xuống theo cửa trước, tôi với chị Bé chạy xuống theo và nhìn vào cửa sau xe thì thấy một bà cụ ngồi giữa băng ghế chót, đầu gục trên đống giỏ xách chất cao để trước chân, trông giống như người đang ngủ! Chung quanh tôi họ náo động cả lên, có người đoán rằng viên đạn bị bắn xiên xuống lòng đường đã dội ngược lên gầm xe và trúng phải bà cụ. Chị ngồi cạnh bà cụ là người hoảng nhất, vì cái chết đã đến với chị trong gang tấc. Một cô không quen biết bỗng kéo tay tôi: “Chị biết bác này không? Bác là mẹ của M. làm ở bệnh viện đó!”. (M. thì tôi biết vì là bạn tiểu học với tôi, tôi nhớ bạn có giọng nói rất trong trẻo, thánh thót như tiếng chuông ngân và thường được cô giáo nhờ đọc bài vào giờ tập đọc). Lúc đó có vài xe từ Sài Gòn chạy về Phan Thiết, họ chạy rề rề để xem việc gì xảy ra. Tôi vẫy một chiếc xe và nhờ anh lơ xe lúc về đến Phan Thiết thì lên bệnh viện báo tin dùm cho cô M. Dân quân địa phương tới bắt giữ tên bộ đội, lúc đó hắn đứng ngây ra và mặt tái mét. (Về sau tôi có nghe nói là M. mượn được xe cứu thương để vào chở bà cụ về ngày hôm đó). Tôi với chị Bé lo đón xe khác để vào Sài Gòn. Hôm sau tôi đi miền Tây và được biết chuyến vượt biên đã hoãn lại, và tôi lại trở về Phan Thiết.

Lúc mới qua Úc, có lần tôi đọc trên nhật báo Sydney Morning Herald một bài báo có tựa đề 'A Ride from Hell', trong đó một phóng viên Úc kể về chuyến đi của ông ta và người bạn trên một chuyến tàu xuyên Việt xuất phát từ Hà Nội, và chứng kiến đủ cảnh hỉ nộ ái ố trên tàu. Lúc đó khoảng năm 1987, người nước ngoài không được đi xe lửa vì không an toàn, nên họ chỉ được cấp giấy đi từ Hà Nội vào Huế mà thôi. Nhưng khi họ đến Huế, sau một chầu nhậu có bia và đồ biển với một quan chức ở đây, ông ta tuyên bố đây là lãnh thổ của ông ta, ông ta muốn làm gì thì làm và cấp cho họ một giấy phép đi đến tận Sài Gòn. Tuy vậy, chỉ tới Đà Nẵng thì hai tay phóng viên này bỏ cuộc, xuống ga đứng nhìn con tàu tiếp tục hành trình khổ ải của nó và mong cho nó đến bình yên.

Lần chót tôi đi xe lửa ở VN là năm 2001, từ Lào Cai về Hà Nội, sau chuyến đi chơi ở Sa Pa. Lúc đi Lào Cai, tôi mua được vé tàu nằm, một cái phòng bé xíu có hai cái giường ba tầng chứa được 6 người, tôi nằm tầng trên cùng gần sát trần, nếu mỏi quá cũng không thể ngồi lên được dù là khom lưng. Còn lúc về Hà Nội thì hết vé tàu nằm,  phải mua vé thường. Cứ sáu hành khách ngồi trên hai băng ghế đối diện nhau, không có tay vịn hoặc chỗ tựa đầu gì cả, suốt 10 tiếng đồng hồ như vậy, mỏi quá thì gác chân lên đồ đạc hoặc băng ghế đối diện. Chỗ tôi ngồi là hàng ghế chót sát cầu tiêu nên mùi hôi xông lên nồng nặc, vậy mà chẳng thấy ai than phiền gì cả, chắc họ khổ quen rồi nên không thấy khổ. Tôi cũng ‘ngộ’ ra chân lý cho chính mình: khổ tạm thời thì cũng không thấy khổ. Tuy không sử dụng đến cầu tiêu, tôi cũng vô đó hứng nước từ lavabo và dội sàn thật lâu, mà vẫn không hết mùi khai. (Cầu tiêu chỉ là một cái lỗ nhỏ trên sàn, chất thải rớt xuống đường rầy nhờ gió mưa dọn hộ. Nhân viên hỏa xa giao luôn chìa khóa cho mấy thằng bé đánh giầy, tới mỗi trạm dừng thì bọn trẻ chạy đi khóa các cầu tiêu để hành khách khỏi sử dụng, nếu không con đường rầy trước mặt sân ga sẽ hôi thối). Còn toa căng tin chỉ có một cái tủ nhỏ bán thuốc lá với vài cái két gỗ úp ngược làm ghế ngồi. Đến 4 giờ sáng thì tới ga Hàng Cỏ, tàu lại đậu cách nhà ga một khoảng, trong ánh sáng lờ mờ hắt ra từ sân ga, đám hành khách tuôn xuống và men theo đường rầy đi vào ga. Còn sớm quá nên tôi không về nhà cô bạn ngay vì sợ làm phiền. Cũng may là trong phòng đợi có đèn, có nhiều hành khách. Tôi nằm trên băng ghế ngủ một giấc tới sáng mới đi taxi về nhà bạn.

Lần rồi về thăm VN (2008) tôi nhận thấy đường xá nhà cửa có phần rộng đẹp hơn, nhưng việc đi lại vẫn không cải thiện gì mấy. Để chạy cho mau và tránh xe gắn máy thì các xe đò cứ chạy nghênh ngang giữa đường hoặc sang hẳn qua lằn đường bên kia, khi nào có xe ngược chiều chạy tới cách chừng mươi mét thì họ mới lách trở về lằn đường dành cho mình. Do chạy đấu đầu như vậy nên khi tai nạn xảy ra thì rất thảm khốc. Một du khách nước ngoài đã gọi những hàng ghế đầu là ‘suicidal seats’. Một lần chúng tôi thuê taxi đi Mũi Né, thấy tài xế cứ lạng lách nguy hiểm quá, chúng tôi khuyên anh ta (gần như là năn nỉ) nên chạy chậm thôi, anh ta vẫn không đổi tốc độ và luôn miệng trả lời bằng một câu bất di bất dịch: ‘Ở VN là vậy đó, nếu không thì làm sao mà chạy được!’

Nhắc tới chuyện đi chơi VN tôi lại nhớ tới lần quá cảnh ở Singapore tôi có gặp một Việt kiều cũng đang trên đường trở qua Úc. Anh kể rằng ba của anh đau nặng nên người nhà điện tín gọi anh về gấp, sau đó thì ông cụ khỏi bệnh. Quê của anh ở miền Tây, cả xóm nghèo chỉ có nhà anh là có người đi nước ngoài nên bà con trong xóm hay đến mượn tiền ba của anh và gọi ông là ông Tư Việt kiều. Về VN nhưng anh không đi chơi đâu hết vì sợ xe cộ, một người bà con của anh bị đụng xe mười mấy lần từ hồi ‘giải phóng’ tới giờ. Vậy là trong suốt thời gian về thăm quê, tối ngày anh ta chỉ nằm trên võng trước nhà để hầu chuyện với cha mẹ, ăn cơm bằng gạo từ ruộng lúa của chính nhà anh trồng (không có dùng chất trừ sâu độc hại), cứ thế cho đến ngày qua Úc. Xem ra, đi du lịch Việt Nam như anh là an toàn nhất!


***

Mãi suy nghĩ mông lung mà trời đã gần sáng. Ở ghế bên cạnh tôi, Phượng cũng vừa cựa mình thức giấc nhìn qua tôi và nói:
“Ủa bà không ngủ được sao?”
Tôi lơ đãng trả lời bạn, tâm trí còn vương vấn những mảng ký ức xa xưa:
“Ờ ờ ..xe lửa chạy hơi ồn nên mình khó ngủ.”
"Mà tui thấy ngồi xe lửa cũng mỏi quá bà, chỉ có đi máy bay là khỏe nhất.”
“Dù sao cũng còn đỡ hơn Việt Nam.”
“Việt Nam thì còn nói gì nữa!”

 

Trở lại Đầu Trang