Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Lá Thư Không Trông Đợi
Truyện Ngắn của Hướng Dương txđ



Hắn đã nhận được lá thư đó vào một buổi trưa thứ bẩy, một lá thư viết từ Prague bởi một người đàn bà hắn không hề quen biết. Khi cầm lá thư đó trên tay, nhìn con tem lạ hoắc của cái xứ Tiệp Khắc hắn chưa bao giờ bước chân tới, đọc cái tên Nguyễn Thị Phương Lan ở bên góc trái cùng cái địa chỉ xa lạ, hắn mới đầu nghĩ rằng đó là một lá thư đưa lầm nhà, người giao thư chắc đã mắt nhắm mắt mở bỏ nó vào thùng thơ của hắn mà không hay biết. Nhưng khi thấy rõ ràng tên và địa chỉ của hắn được nắn nót viết trên phong bì thì hắn mới nhận thức ra thực tế, cái thực tế lạ lùng là quả nhiên có ai đó đã cố tình gửi lá thư này đến hắn chứ không không phải là một sự lầm lẫn.

Trong nhiều phút kéo dài như hàng giờ, hắn cố moi trong óc xem hắn có quen một người đàn bà nào tên Phương Lan hay không để rồi kết luận rằng trong cả cuộc đời hắn, hắn chưa bao giờ nghe tới cái tên đó, chứ đừng nói biết một người nào có cái tên nghe êm tai như vậy. Rồi hắn suy nghĩ xem hắn có quen biết ai ở Prague hay không, họ hàng, bạn bè, người quen biết, hắn có ai ở cái xứ Tiệp Khắc hay không, để rồi rốt cuộc cũng lại kết luận rằng không, hắn không biết một ai sinh sống ở cái thành phố hay cái xứ Đông Âu đó cả. Ngần ngừ mãi, hắn mới với tay lấy chiếc kéo cắt cái rìa phải của phong thư rồi chậm rãi kéo lá thư ra. Trước khi mở lá thư ra đọc, hắn cầm chai Cordon Bleu mở nút, rót thêm rượu cái vào ly hắn đã uống cạn, giờ chỉ còn trơ những cục nước đá. Hắn chậm rãi cầm chiếc hộp quẹt bằng vàng, mở nắp, bật lửa châm chiếc pipe hắn đang ngậm trên miệng. Hắn hít một hơi thuốc dài, ngửng cổ lên trần nhà lim dim đôi mắt một giây trước khi phà làn khói thơm phưng phức ra khỏi buồng phổi. Rồi hắn lại cầm ly rượu lên nốc một hơi. Để ly xuống mặt bàn, hắn ngả lưng trên chiếc ghế bành, rồi mới mở lá thư ra đọc. Những giòng chữ nắn nót viết trên một tờ giấy trắng có hàng kẻ thu hút sự tò mò tột độ của hắn:

Kính thưa ông,
Em tên là Phương Lan, hiện sinh sống ở Prague, xứ Tiệp, em viết lá thư này đến ông để kể lại chuyện của em và Quế Hương cho ông biết và mong được sự thông cảm và sự giúp đỡ của ông đây.
Quế Hương và em là hai đứa bạn thân quen biết  nhau từ ngày bỏ nước ra đi kiếm đường sinh sống bên cái xứ Tiệp này. Chắc Ông có nghe nói đến những nỗi khô khăn  và khổ sở vô bờ bến của những kẻ như chúng em đi tìm một tương lai sáng sủa hơn nơi xứ người. Nhưng không may cho Quế Hương, nó chưa tìm được tương lai tốt đẹp thì cách đây hơn một năm nó đã qua đời bên đây vì một căn bệnh hiểm nghèo mà không có đủ phương tiện tài chính để chữa trị.

Nghe em kể đến đây chắc ông đã biết tại sao em lại viết lá thư này đến ông. Trong suốt thời gian Quế Hương và em ở bên nhau nơi xứ Tiệp này, nó đã kể đến người cha mà nó chỉ biết qua một tấm hình mà mẹ nó còn giữ lại làm kỷ niệm, người cha nó thương yêu và nhớ suốt đời mặc dù nó không bao giờ đối mặt , người cha mà nó đã phải xa cách ngay từ năm nó lọt lòng mẹ. Quế Hương đã mơ đến một ngày đẹp trời nào đó cha nó sẽ đi tìm nó và đón nó về ở cùng để nó được hưởng một cuộc sống hạnh phúc ấm no, khỏi phải khốn khổ nữa. Nhưng chuyện đó sẽ không bao giờ thành được nữa, và từ thế giới bên kia, nó vẫn đôi khi trở về với em trong giấc mộng để nhắc nhở em đi kiếm cha nó cho nó. Có lẽ linh hồn nó vẫn còn vấn vương trần thế vì giấc mộng không thành kia, em nghĩ vậy không biết đúng sai?

Vì nghề nghiệp, trong những năm gần đây, em đã có dịp tiếp xúc với nhiều du khách người Việt đến thăm viếng thành phố Prague. Gặp bất cứ ai em cũng hỏi xem có ai biết đến ông hay không và có lẽ do định mệnh run rủi, đã có người biết và cho em địa chỉ này.

Đã ba mươi năm trôi qua, mọi chuyện xưa kia đã đi vào dĩ vãng, em không biết lá thư này đến tay ông có đưa tới một kết quả như ý của Quế Hương và em mong muốn hay không, nhưng em nghĩ em viết gửi đi lá thư này cũng chẳng mất gì, biết đâu Trời Phật phù hộ, em sẽ may mắn được ông thương tình mà nghĩ tới và tìm đến.

Nếu cần biết thêm chi tiết, xin ông liên lạc thư từ hay điện thoại cho em. Số đt của em là 1233457890. Địa chỉ thư từ qua bưu điện của em ông có ngoài phong bì.
Kính chào ông,
Phương Lan.

Hắn đã đọc lá thư một mạch, và khi đọc xong tim hắn như thót lại, hắn cảm thấy một cảm giác như hồi hộp, khó thở. Đầu óc hắn hơi choáng váng, hắn không hiểu sao tự nhiên cái lá thư quái ác này lại đến phá sự thanh bình trong cuộc sống của hắn. Ngưng chừng vài giây, hắn lấy chai Cordon Bleu rót thêm vào cái ly và đưa lên miệng làm một hơi cạn ly luôn. Trong đầu hắn bao nhiêu ý nghĩ mông lung hiện ra quay cuồng làm cho hắn cảm thấy khó chịu. Sau gần ba mươi năm, bỗng nhiên cái quá khứ khốn nạn lại trở về ám ảnh hắn hay sao đây? Tại sao lại có cái chuyện quái đản như thế? Số mệnh hay quả báo?

Hơn ba mươi năm trước, hắn còn là một thanh niên. Tốt nghiệp trường Võ Bị, hắn đã xung phong vào binh chủng thiện chiến nhất của đất nước. Hắn đã trong hai năm lăn lộn trên những chiến trường tàn bạo nhất của Miền Nam và sau những chiến thắng oanh liệt đã được trao tặng những huy chương cao quý nhất. Và những lần dưỡng quân, hắn đã dừng chân nơi một quán quen thuộc nơi tỉnh nhà để rồi bị lôi cuốn bởi cái vẻ đẹp mỹ miều của một người con gái bán rượu, và sau những lần hai đứa gặp gỡ, kết quả là hắn đã tặng nàng một cái bầu. Đời lính gian nguy, nay đây mai đó, hắn đã không thể giam thân một nơi, nên đã chỉ hứa hẹn rằng ngày nàng khai hương nở nhụy hắn sẽ tìm mọi cách để ở bên cạnh nàng. Nhưng lời hứa hẹn đó, hắn không thực hiện được vì chiến trường sôi bỏng của những tháng đầu năm 75 đã đưa hắn đi xa lên tuốt những vùng cao nguyên Miền Trung đất nước. Những ngày khốn nạn nhất của quê hương đó, hắn đã sôi máu diệt quân thù, hắn đã căm hận bọn giặc phương Bắc, hắn đã cắn răng chiến đấu để trả thù cho bao nhiêu đồng đội của hắn đã ngã gục ngay trước mắt hắn, hắn đã quên cả lời hứa với người yêu. Trong cả đời hắn, không bao giờ hắn uất hận hơn khi thấy đất nước hắn thương yêu chìm vào khói lửa, và hắn đã đau buồn khi thấy tương lai mịt mờ của quê hương mình. Trong nỗi đau đớn của người chiến sĩ thấy quân thù tung hoành trước mắt, hắn cũng như bao nhiêu đồng đội khác đã nghiến răng bóp cò để càng giết được nhiều giặc càng thấy vui. Máu và nước mắt của bao nhiêu bạn bè hắn đã đổ ra trên những vùng đất cao nguyên đó. Những cuộc rút quân vội vã đã làm cho lòng hắn chùn lại, hắn đã buồn nản khi thấy các bạn và hắn bị dồn vào đường cùng mà không làm gì được. Những kẻ trước đấy là đồng minh của hắn bấy giờ đã bỏ rơi hắn, đã trói tay hắn, đưa hắn vào cái rọ, để hắn trở nên bất lực, hết nước tung hoành. Quê hương hắn rơi vào một thảm trạng ngày càng bi đát hơn để rồi kết cuôc nỗi nhục nhã đến với tất cả những chiến sĩ như hắn. Thật là bi thảm cho đời hắn khi phải buông súng đầu hàng sau một trận đánh chí tử. Hắn đã cảm thấy nhục nhã khi cùng một chục đồng đội bị bắt làm tù binh sau khi nơi đại đội hắn cố thủ bị pháo như mưa và sau đó bị bao vậy bởi cả một trung đoàn địch.

Trong sự rã rời của tâm hồn, hắn đã lững thững đi vào nhà tù của bọn giặc để rồi sau nhiều năm tháng bị hành hạ thân xác và bị làm nhục bởi bọn kẻ thù ngu ngốc cứ huyênh hoang cái chiến thắng vô lý của chúng, hắn chịu không nổi nên đã liều mạng vượt ngục. Trời đã thương hắn, đã không buộc hắn phải chịu số phận của bao nhiêu bạn tù của hắn bị bắn gục hay bị bắt lại, hắn đã thoát và hắn đã tìm đường bỏ nước ra đi. Hắn đã cố gắng mò về quê nhà tìm người tình năm xưa, tính đưa nàng và đứa con hắn chưa bao giờ thấy mặt theo, nhưng một tin xét đánh đã làm cho hắn buồn bã bỏ đi: người yêu của hắn đã theo một tên cán bộ và bỏ tỉnh đi nơi đâu không ai biết. Cái làm cho hắn đau đớn nhất là hắn đã mất luôn đứa con, giọt máu thân thương của hắn, niềm vui duy nhất của đời hắn. Từ giã mẹ già, hắn đã trốn chui trốn lủi sống nhiều tháng nơi một vùng ven biển để tìm cơ hội nhẩy được lên một chiếc ghe chở người vượt biên. Năm đó đã là cái năm may mắn nhất trong đời hắn, hắn đã thành công trong quyết định bỏ quê hương ra đi.

Định cư tại Miền Đông Hoa Kỳ từ đầu năm 80, sau gần một năm di chuyển hết trại tị nạn này sang trại tị nạn khác, hắn đã vừa đi làm những công việc vặt vãnh để kiếm sống vừa đi học nghề thợ tiện tại một đại học cộng đồng.  Tốt nghiệp xong, hắn đã đi làm công năm năm cho một cơ xưởng chuyện môn tiện những bộ phận máy bay và nhờ quyết tâm hắn đã chăm chỉ học hỏi thêm và tay nghề hắn đã ngày càng điêu luyện. Hắn đã khôn ngoan học cách xử dụng đủ loại máy từ những máy cơ động điều khiển bằng tay cho tới những máy tối tân tự động, rồi tới những máy được điều khiển bằng computers. Hắn đọc thêm những cuốn sách chỉ dẫn, nghiên cứu tất cả những sơ đồ, học hỏi tìm tòi để hiểu cách đưa những dữ kiện vào trong bộ não của những hệ thống điện toán hầu máy tiện cứ thế sản xuất những món đồ hàng loạt theo dây chuyền tự động. Vì thấy hắn thông minh và chăm chỉ chủ nhân đã đặc biệt thương hắn và tăng lương và cho hắn lên chức dần dần. Từ chân thợ hắn từ từ bò lên tới trưởng toán, trưởng nhóm kiềm tra phẩm chất, chuyên viên kỹ thuật đặc trách tiếp nhận những đơn đặt hàng, người quản lý phân chia công tác cho từng nhóm thợ, cho đến phó giám đốc đặc trách sản xuất của toàn xưởng. Hắn cũng còn chịu trách nhiệm huấn luyện tay nghề cho những thợ mới tới làm việc. Cơ quan tìm việc cho dân tị nạn người Việt hồi đó đã tiếp xúc với hắn để xin việc cho những người mới đến Mỹ định cư và hắn đã giúp hướng dẫn những người này học nghề và tạo cơ hội cho họ vào làm việc trong xưởng của hắn.

Xưởng hắn làm tương đối nhỏ, chỉ có khoảng năm mươi nhân viên, vừa thư ký hành chánh, tài xế xe vận tải lẫn công nhân thợ thuyền. Chủ nhân là một người Mỹ đã lớn tuổi, sau cả nửa thế kỷ làm việc không mệt mỏi ông đã xây dựng được cơ ngơi này. Đến khi hắn đủ mười năm, khi hắn đã có đầy đủ kinh nghiệm để điều hành toàn xưởng, thì ông chủ tính chuyện về hưu và đã đề nghị để xưởng lại cho hắn và hắn đã chộp ngay cơ hội. Bao nhiêu tiền dành dụm suốt mười năm trời chỉ đủ tiền trả  cái down payment, phần còn lại hắn đã đi vay ngân hàng. Nhờ có đầu óc kinh doanh, hắn đã mướn thêm những kỹ sư trẻ người đồng hương mới ra trường để phát triển cơ xưởng về mặt kỹ thuật, hắn mướn cả một người có bằng MBA để làm marketing cho cơ sở và một luật sư người Mỹ để lo tất cả những vấn đề pháp lý. Cơ xưởng của hắn ngày càng mở rộng, số công nhân nay đã lên tới trên hai trăm người. Để khuếch trương, hắn đã mua thêm những vùng đất xung quanh để mở rộng cơ xưởng của hắn và thay vì làm subcontract cho những nhà máy tiện lớn hơn như xưa kia, hắn đã tìm cách giao thiệp thẳng với những hãng làm máy bay để trực tiếp nhận đơn đặt hàng từ những hãng này.

Hơn hai mươi năm đã trôi qua, từ một người tị nạn với hai bàn tay trắng, giờ đây hắn đã là một nhà kinh doanh đầy kinh nghiệm, làm ăn lớn, cơ xưởng của hắn có doanh số lên tới hàng mấy chục triệu một năm. Ở cái tuổi trên năm mươi, hắn bây giờ đã bắt đầu thấy mệt mỏi và nghĩ tới việc hưởng thụ những thành quả tốt đẹp mà, do công lao khó nhọc, hắn đã gặt hái được. Hắn sống trong một dinh thự nguy nga, có người hầu kẻ hạ, đi đâu cũng có tài xế lái limousine đưa đón. Hắn chơi golf, một môn thể thao của giới thượng lưu, bạn bè của hắn ngoài những người chí thân quen từ hồi còn ở bên nhà, phần còn lại là những doanh gia ngoại quốc mà hắn vì công việc phải giao thiệp.

Từ ngày ly dị người vợ trẻ cách đây ba năm, hắn đã sống đơn độc một mình và tạm thời không còn nghĩ đến chuyên yêu thương ai khác nữa. Cuộc đổ vỡ đã làm cho hắn tổn thất nặng về cả mặt tài chánh lẫn tinh thần. Tuy nhiên hắn cảm thấy may mắn không còn một sự ràng buộc nào với người vợ cũ của hắn vì hai người đã không có con với nhau. Từ ngày bất hạnh đó, hắn đã chỉ còn sống cho chính hắn, cho cái sự nghiệp to lớn mà hắn đã xây dựng được và khi nhìn về tương lai hắn mong mỏi sẽ có một đứa con để hắn truyền lại cái gia tài kếch xù mà hắn hiện có. Hắn mong rồi ra hắn sẽ gặp được một người đàn bà nết na, phúc hậu để hắn cưới làm vợ và sinh con. Và đã có lần trong những lúc buồn tình hắn nghĩ về quá khứ xa xôi, hắn nhớ lại cái thời xa xưa và tự vấn lương tâm hắn, hắn tự hỏi sao đã không trở về tìm đứa con máu mủ của hắn. Để rồi hắn tự bào chữa rằng chỉ vì hắn quá bận bịu với công việc làm ăn, không có thời giờ đâu mà làm được cái công việc khó khăn nhiêu khê đó. Bởi vì hắn cũng biết đâu dễ gì mà tìm lại được người yêu cũ để rồi từ đó mà tìm ra đứa con mà hắn chưa một lần thấy mặt.

Để rồi bây giờ hắn bỗng nhận thức rằng trong khi hắn vô tình không nghĩ gì đến nó thì chính con hắn lại vẫn mong mỏi có ngày được gặp hắn, người cha đẻ ra nó. Đau đớn thay cho hắn là con hắn đã phải chịu một số phận đầy nghiệt ngã mà hắn đâu hay biết, hắn đọc lá thơ mà không cầm được nỗi xúc động làm cho hắn rơi nước mắt khi nghĩ đến cái chết thật khốn nạn của nó. Giờ đây thì đã muộn màng, đâu còn gì để tiếc thương, số phận đứa con mà hắn một thời thật yêu thương đã an bài. Rồi hắn nghĩ tới lá thư của người con gái xa lạ kia, lá thư định mệnh đã đến để báo cho hắn hay biết cái tin động trời, để cho hắn bỗng phải đối mặt với một thực tế phũ phàng. Hắn nghĩ tới cái tên Phương Lan, tên người con gái tự nhận là bạn thân từ nhỏ với con gái hắn. Phương Lan, cái tên nghe đẹp nhưng liệu hắn có tin được lời nói của cô ta hay không? Hắn biết rằng trong cái xã hội giả dối lừa lọc bên quê nhà bây giờ, chuyện bịp bợm xẩy ra rất thường, làm sao biết được những chuyện Phương Lan kể ra trong lá thư là có thật, làm sao hắn có thể tin được người con gái xa lạ đó? Hắn phân vân, không biết phải làm gì bấy giờ? Để rồi khi định thần lại, hắn nghĩ chỉ còn cách duy nhất là viết cho Phương Lan một lá thư trả lời.

Hắn lại đưa ly rượu lên làm một hơi và cầm cây píp đưa lên miệng châm lửa đốt. Khói phà ra từ miệng hắn tỏa một mùi thơm lừng của thứ thuốc 79 mà hắn ưa thích từ lâu. Hắn mở chiếc laptop, bấm nút cho máy chạy và chờ cho máy boot up mà lòng thì nóng như lửa. Phương Lan có cho hắn số phone, nhưng hắn nghĩ chưa phải lúc cho hắn nói chuyện thẳng, hắn muốn qua một vài lá thư đầu dò xét thái độ của nàng rồi sau đó mới tính. Khi máy đã sẵn sàng, hắn cặm cụi đánh những giòng chữ như sau:

Mến gửi Phương Lan,

Thật là một sự ngạc nhiên bất ngờ khi nhận được lá thư cô gửi đến tôi qua đường bưu điện, tôi đã đọc nó trong sự bùi ngùi xúc động. Tôi rất buồn khi nghe cô thông báo cho tôi hay rằng Quế Hương, con gái tôi, đã qua đời và tôi cám ơn cô đã cho tôi biết chuyện quan trọng này. Xin cô vui lòng cho tôi biết sự thể đã xẩy ra thế nào và hiện giờ mộ Quê Hương nằm ở đâu.
Tôi rất hối hận  đã không sốt sắng trong việc tìm bắt liên lạc với con gái tôi trước đây, mặc dù tôi vẫn nhớ đến nó. Tôi không dám biện minh cho sự lơ là này, nhưng chắc Phương Lan – và cả Quế Hương lúc còn sống - cũng đã hiểu rằng công việc vô cùng bận bịu đã không cho phép tôi nghĩ  tới chuyện gì khác hơn là cố xây dựng cho tôi một xự nghiệp tại nơi tôi đang sinh sống này.

Nhưng bây giờ thì tôi đã thảnh thơi hơn và có thể nghĩ tới chuyện giúp đỡ mà cô xin trong thư. Vậy Phương Lan hãy nói rõ tôi sẽ có thể làm gì. Luôn tiện xin cho tôi biết hoàn cảnh hiện thời của cô để tôi dễ thẩm định.
Chúc cô luôn gặp may mắn.
Rất mong tin,

Trần Thanh Hoàng

Sau khi đọc đi đọc lại lá thư, hắn đã nhấn nút để in, hắn đã bỏ vào phong bì, và ngày hôm sau ra sở hắn đã cho gửi nó đi bằng đường bưu điện. Nhưng cả tháng sau hắn cũng vẫn không nhận được thư hồi âm. Lúc đầu hắn cũng hơi thắc mắc nhưng sau đó bận bịu với cuộc sống hàng ngày hắn không để tâm tới nữa. Hắn cho rằng lá thư kia chỉ là một thư tầm bậy ai đó bịa chuyện để làm gì hắn cũng không biết. Nhưng rồi chừng sáu tháng sau anh lại nhận được một lá thư ngắn của Phương Lan, lần này từ Saigon. Lời nhắn của em ngắn ngủi:

Kính ông,
Lâu rồi em có gửi một lá thư đến ông, không biết ông có nhận được không mà em không thấy ông trả lời. Giờ em đang ở Saigon và nhưng sẽ  trở lại Prague trong một ngày gần đây thôi. Xin ông tạm biên thư cho em vế địa chỉ bên ngoải phong bì.
Mong tin,
Phương Lan

Hắn đã in lại lá thư kia, gửi về địa chỉ của em ở Việt Nam và chỉ 10 ngày sau đã có thư em viết thư trả lời. Em cho hay bi giờ tình trạng đã khá hơn, em không còn thật là cần đến sự giúp đỡ của hắn nữa nhưng em vẫn sẵn sàng giúp hắn đi thăm ngôi mộ của Quế Hương. Em nói em vẫn muốn chu toàn lời hứa với người bạn thân thiết của em vì lâu lâu Quế Hương vẫn hiện về ban đêm trong giấc ngủ và em rất buồn bực khi chưa làm xong nghĩa vụ đối với Quế Hương. Em đã cho hắn số điện thoại mới của em và sốt ruột vì liên lạc bằng thư từ quá lâu lắc hắn gọi em nói chuyện qua điện thoại.

Qua những lần điện thoại viễn liên hắn được biết rõ hơn do hoàn cảnh nào mà con hắn đã quên biết người đàn bà tên Phương Lan này: Cả hai đả cùng nộp đơn xin xuất cảng lao động và đã phải tốn rất nhiều tiền chạy chọt đút lót mới đi được để rồi khi đến Tiệp mới biết rằng những gì được hứa hẹn ở Việt Nam đều là những lời hứa lèo, cả hai đứa bị bóc lột sức lao động, phải lao động khốn khổ để sống còn và trả nợ. Nhưng sau một thời gian, Phương Lan đã tìm cách trốn ra ngoài sống bằng nghề đi buôn và từ từ mới thấy cuộc đời khấm khá hơn. Từ khi bắt được một đường giây buôn lậu từ nội địa nàng bắt được đường giây buôn bán hàng mang từ Việt Nam sang và không còn vất vả như trước nữa.  và mới nhất, em đã đươc một tổ chức buôn lậu cầm đầu bới những cán bộ gộc ở toà đại sứ kết nạp nên em cứ đi đi về về giữa hai nước thường xuyên và chính vì vậy mà em thấy không còn cần đến sự sự giúp đỡ của hắn nữa. Nghe nàng nói thế hắn cũng hơi chột dạ. Hắn hỏi em buôn cái gì thì em chỉ cười, hỏi lại “Anh muốn biết làm chi? Anh chỉ cần biết em khá hơn xưa là được rồi, đúng không?”

Phượng Lan đã cho hắn biết rằng con gái hắn đã bị sưng phổi vào một mùa Đông quá khắc nghiệt của Prague, nàng đã không có điều kiện để chữa trị kịp thời nên đã bất hạnh qua đời sau một thời gian ngắn sống trong tủi nhục, giận hờn cuộc đời quá thiếu may mắn, buồn cho cái thân phận quá hẩm hiu của mình. Hiện mộ nàng năm trong một nghĩa trang nhỏ ở một vùng ngoại ô xa của thành phố Prague. Nghe câu chuyện đau thương này, hắn đã thấy sót sa cho thân phận đứa con gái yêu của hắn. Hắn đã hẹn ngay khi Phương Lan trở lại xứ Tiệp thì hắn sẽ bay đi Prague để, với sự trợ giúp của nàng, thực hiên việc bốc mộ cho Quê Hương rồi đưa về an tang tại Việt Nam. Hắn đã nhờ Phương Lan lo liệu giấy tờ xin phép chuyện cải táng này trước cả ở Việt Nam lẫn ở Tiệp và nhờ sự quen biết nhựng giới chức ở toà đại sứ của Phương Lan, hắn được cho biết rằng mọi việc chắc sẽ trôi chảy, không có gì khó khắn cho lắm, nhất là khi hắn có phương tiện tài chính để chạy chọt, mua chuộc sự giúp đỡ của giới chính quyền ở cả hai nơi.

*******

Nghe Quân kể câu chuyện ly kỳ này đến đây, tôi sốt ruột hỏi:

  • Cái gì mà lạ lùng vậy? Thế người con gái hiện ở với hắn, cô gái đẹp mà ai cũng trầm trồ khen xinh, là ai? Sao nghe nói cô ấy chính là con gái hắn? Vậy là thế nào? Sao lại bảo nó chết vì bạo bệnh?
  • Cái ông này sao cứ nóng như lửa! Cứ từ từ để tôi kể câu chuyện từ đầu chí đuôi thì ông mới hiểu được chứ! Sao mà ông vẫn như ngày xưa, lúc nào cũng cuống cuồng lên?

Quân chậm rãi kéo một điếu Pall Mall đỏ ra khỏi bao thuốc, đưa lên môi chấm lửa. Anh rít một hơi dài rồi lim dim đôi mắt như mơ mơ màng màng nhớ tới một nàng tiên nào đó của thời xa xưa… Một phút sai tỉnh lại, Quân với chai Château Neuf du Pape, rót thêm vào hai ly nói:

  • Mình làm thêm miếng saucisson, uống thêm chút vin nữa đã….Ông nhìn ra ngoài cửa sổ kià! Cảnh mùa Thu ở ngoại ô Paris có đẹp bằng “Fall in Vermont” của ông hay không?
  • Ông này hỏi vớ vẩn thấy mẹ! Người ta đang tò mò mà lại nói chuyện thơ mộng. Okay, thì mình chơi cái saucisson này rồi anh kể nốt câu chuyện cho tôi nghe đi.

Quân đứng dạy đi ra mở chiếc tủ lạnh rồi trở lại với miếng fromage de chèvre de champagne và một con dao to. Anh hì hục cắt miếng phó mát ra từng miếng nhỏ bỏ lên điã.

Tôi đã quen Quân từ khi chúng tôi cùng đi học chung ở Trung Học. Năm 67, nhờ được miễn động viên vì là con một trong gia đình, anh đã được học bổng đi du học ở Pháp và anh đã đậu bằng ingénieur mécanique. Sau khi ra trường anh đã đi làm cho công ty Airbus ở Toulouse gần hai chục năm. Vào những năm đầu của thập niên 90 Airbus đã gửi anh đi sang Mỹ nhiều lần để tham dự những buổi tham quan, họp để trao đổi kinh nghiệm, cũng như bàn bạc hợp tác giữa Airbus và Boeing và trong một dịp may, anh đã gặp và quen biết Hoàng. Sau nhiều lần tiếp súc, anh đã nhận làm cố vấn kỹ thuật cho nhà máy sản xuất những cơ phận máy bay của Hoàng và sau đó cũng là dịp anh giúp Hoàng liên lạc với Airbus để nhận làm những bộ phận thay thế cho Airbus hầu cung cấp những parts cho những hãng hàng không xử dụng máy bay Airbus ở nội địa Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà Quân biết rõ đầu đuôi câu chuyện ly kỳ này.

Câu chuyện được Quân kể tiếp như sau:

Sau đó hắn đã đi Prague và đã gặp Phương Lan tận mặt nhưng sau những lần hai người đi chơi, đi ăn với nhau mà không thấy nàng đã động gì đến chuyện bốc mộ cho con hắn thì hắn đã hỏi và lần nào nàng cũng tìm cách nói lảng:

  • Đâu có gì gấp gáp đâu anh. Anh qua đây chơi, để em đưa anh đi thăm thành phố Prague, xem những thắng cảnh của xứ Tiệp đã. Chuyện bốc mộ anh cứ để đó cho em lo mà.

Thế rồi gần đến ngày hắn phải trở về Mỹ thì Phương Lan mới thổ lộ với hắn rằng chuyện đưa hài cốt về Việt Nam gặp khó khăn, nàng chưa xin được phép của chính quyền Việt Nam, nàng còn phải tiếp tục vận động những người quen, phải chạy chọt…

  • Anh cứ tin tưởng nơi em. Thế nào em cũng làm được chuyện này, vì em đã hứa với anh và cũng vì bổn phận tinh thần của em đôi với hương hồn Quế Hương nữa.

Cuối cùng vì hắn kỳ kèo mãi nên nàng đành đưa hắn đến một nghĩa trang cách xa thành phố cả gần 30 cây số rồi hai người cứ đi lòng vòng mãi không kiếm ra ngôi mộ. Nghĩa trang nghèo nàn nhưng rộng thêng thang này có từ thời nước Tiệp còn ở dưới chế độ Cộng Sản, có lẽ dành cho những người dân đói rách thuộc giai cấp vô sản, những ngôi mộ chỉ là những mô đất với một tấm bia ciment nhò xíu ghi tên tuổi người chết. Đi loanh quanh, đôi khi hắn bắt gặp một ngôi mộ mang tên người Việt, hắn nghĩ người chết có lẽ là một trong hàng mấy trăm ngàn người đồng hương của hắn đã đi lao động xã hội chủ nghĩa thời sau 75 để trả nợ cho nhà nước hay những kẻ đi tha phương cầu thực hay đi bán sức lao động sau này chẳng may gặp tai nạn hay bệnh tật mà chết. Đi mãi không thấy mộ Quế Hương đâu, Phương Lan nói chống chế:

  • Đã cả năm em không có đến đây, bi giờ em không còn nhớ. Thôi anh chờ em đến kỳ tới anh sang đây thì em sẽ chuẩn bị chu đáo, em sẽ đi hỏi bạn bè em cho rõ, nếu không em sẽ đến cơ quan quản lý nghĩa trang này hỏi để biết vị trí đích xác. Đồng thời em sẽ lo hết giầy tờ cải táng và giấy phép di chuyển hài cốt Quế Hương về quê nhà.

Như vậy là hắn trở về Mỹ tay không, chuyến đi Prague của hắn chẳng được tích sự gì, hắn đành coi đó như là một cuộc đi du ngoạn. Hắn tự an ủi rằng nếu không có chuyện này thì hắn cũng chẳng bao giờ có cơ hội đến thăm cái thành phố Prague nổi tiếng là đẹp này. Hơn nữa cũng từ chuyến đi đó mà hắn quen biết Phương Lan và dần dần hai người thân thiết với nhau hơn sau những lần liên lạc cả bằng điện thư lẫn điện thoại viễn liên. Dần dà, nàng mới thổ lộ những điều mà nàng nói là “bí mật, chỉ kể cho mình anh biết thôi, xin anh đừng nói lại với bất cứ ai khác sẽ nguy đến bản thân em”

Nghe tới đây tính tò mò của tôi lại nổi dạy, tôi vội vả hỏi Quân:

  • Bí mật gì vậy? Sao mà câu chuyện coi bộ như một chuyện trinh thám tới hồi gay cấn. Ông làm cho tôi thấy hồi hộp quá.

Quân bèn trả lời:

  • Chính quyển Cộng Sản nơi đâu cũng có tai mắt. Chúng nó biết Hoàng là một triệu phú giầu có lại có cơ sở kỹ nghệ nên chúng mượn Phương Lan làm giao liên. Cô nàng có nhiệm vụ chiêu dụ hắn về làm ăn ở Việt Nam trong một ngành mà chúng đang cần. Chúng muốn hắn về mở một nhà máy làm những bộ phận phụ của các loại máy bay Boeing trước tiên để đáp ứng nhu cầu của các hãng hàng không dân sự và cúng định sau đó làm cả những bộ phận thay thế của những máy bay quân sự nữa… Nhưng câu chuyện không phải chỉ có thế thôi đâu.
  • Còn chuyện gì nữa vậy? Ông nói cho tôi nghe đi, đừng úp úp mở mở nữa…
  • Mãi về sau, không hiểu vì ly do gì, cô nàng mới thú thật với hắn rằng những gì nàng kể trong lá thư trước kia chỉ là sự bịa đặt hầu tìm cách để bắt liên lạc với hắn mà thôi…
  • Tức là không có chuyện Quế Hương đã chết?
  • Đúng rồi, coi vậy mà ông cũng nhanh trí. Quế Hương vẫn còn sống ngon lành ở Prague. Nàng đang là một sinh viên khoa học làm việc cho một đại học ở đó. Quế Hương đã từng nhiều lần đi Paris để tìm dấu vết của cha nó… Chính Phương Lan đã giúp hắn và con hắn tiếp xúc với nhau qua thư từ rồi sau đó Hoàng đã trở lại Prague để hai cha con được gặp mặt nhau.
  • Còn vụ hắn về Việt Nam theo lời khuyến dụ của “Đảng và Nhà Nước thì sao? Hắn có về không?
  • Tất nhiên là không. Ông biết hắn nuôi trong lòng một mối thù hận đối với bọn Cộng Sản và đã thề không bao giờ “đội trời chung” với quân thù, những kẻ đã buộc hắn phải bỏ quê hương yêu dấu ra đi. Cũng vi bọn chúng mà hắn đã phải suýt mất đứa con mà hắn thương yêu vô ngần…Trời thương hắn nên đã cho hắn gặp lại con hắn …
  • Vậy người thiếu nữ mà ai cũng khen đẹp chính là đứa con mà hắn đã tìm được lại? Hắn đã bảo lảnh cho con hhán được đoàn tụ với hắn?
  • Đúng thế! INS đã cứu xét trường hợp đặc biệt của hai cha con và cho xúc tiến nhanh chóng công viêc xum họp gia đình của họ.
  • Còn Phương Lan thì sao? Sao không nghe nói gì về người đàn bà này nữa?
  • Từ sau cuộc gặp gỡ của hai cha con ở Prague thì Phương Lan đã biến mất, không còn biết tông tích, nàng không còn liên lạc gì với hắn nữa. Hắn cố tìm cách tìm kiếm người đàn bà này để trả ơn  nhưng không thành công. Hắn nghĩ bọn Cộng Sản biết được rằng Phương Lan đã phản bội chúng nên đã ra tay trả thù…Không biết bây giờ Phương Lan còn sống hay đã chết. Nếu còn song thì chắc nàng đang bị cầm tù ở một nơi nào đó. Thật là tôi nghiệp cho người đàn bà này….

Hướng Dương txđ
Tháng Chạp năm 2011.

Trở lại Đầu Trang