Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Mặt Trái của Phát Triển Kinh Tế Việt Nam
Bài của Hướng Dươngtxđ



Lời Nói Đầu:

Trong những năm gần đây, nhờ sự đổ tiền của những nhà tài phiệt và những cơ sở kinh doanh quốc tế vào Việt Nam để lợi dụng vừa nhân công rẻ như bèo lẫn thị trường tiêu thụ của một nước chậm tiến khập khiễng bước vào giai đoạn hưởng thụ văn minh tân tiến, nhiều người trong chúng ta đã chỉ nhìn thấy bộ mặt bề ngoài của cái gọi là phát triển kinh tế vượt bực của nước ta. Nhà nước Việt Nam cũng chỉ muốn đưa ra những hình ảnh bề ngoài, một bộ mặt (phải) làm cho nhiều người nhẹ dạ “hồ hởi phấn khởi” nếu không nhìn vào và phân tích những chi tiết nằm ở mặt trái của vấn đề. Cũng như xưa kia truyền thông Tây Phương nhất là Hoa Kỳ bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa như thế nào thì nay cũng như thế họ không hết lời ca ngợi chính quyền Hà Nội là đã khôn ngoan tài giỏi biến Việt Nam thành một con Cọp nhỏ ở vùng Đông Nam Á Châu. Lời nói không mất tiền mua, muốn thừa nước đục thả câu, lợi dụng đất nước (nguyên liệu và nhiên liệu) và bóc lột nhân dân ta (lao động sản xuất và phục dịch) thì bọn tài phiệt quốc tế, trong đó phải kể đến cả những chính phủ các nước tư bản và những tổ chức quốc tế (như Ngân Hàng Phát Triển Á Châu và Ngân Hàng Thế Giới chẳng hạn) không thể không ca tụng Việt Nam. Nào là gia tăng phát triển hàng năm trên 8%, nào là tiền đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lên tới trên 20 tỷ Mỹ kim trong năm vừa qua, Nào là nước này cho vay bao nhiêu tỷ, tổ chức quốc tế kia “viện trợ” bao nhiêu tỷ, nào là sản xuất tăng gấp hai gấp ba mỗi năm, nào là cầu cống đường xá nhà cửa gia tăng xây cất, nào là trường đại học được tân tiến hóa, vân vân và vân vân. Nhưng không thấy ai (ngọai trừ một vài nhà phân tích kinh tế lương thiện và lác đác một vài nhà báo) nêu ra những trở ngại mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối đầu như lạm phát gia tăng, giá cả hàng hòa vọt lên làm cho người tiêu thụ khốn đốn, xuất nhập cảng bất quân bình, việc xử dụng không hợp lý và thoả đáng số đầu tư ngoại quốc, sự cần thiết phải nhanh chóng xây dựng một hệ thống hạ tầng cơ sở đủ để đáp ứng với nhu cầu phát triển, việc đào tạo những tầng lớp lao động kỹ thuật đủ sức tham gia  sản xuất kỷ nghệ. Cái hố cách biệt giữa giầu và nghèo ngày càng lớn, giai cấp tư sản giầu  quá mức, hút hết những gì béo bở, đẩy tuyệt đại đa số người dân vào một tình trạng khốn đốn, vô vọng, không có một lối nào thoát thân. Trong một xã hội mạnh ai nấy sống, ai cũng muốn vơ vét bỏ vào túi mình thì không ai, kể cả đảng và nhà nước, nghĩ đến người dân bần cùng.

Bài dưới đây chỉ đề cập đến mặt trái của nền kinh tế đang được coi là phát triển vượt mức của Việt Nam mà không bàn đến những hệ lụy chính tri, xã hội và văn hóa giáo dục của nó.

Mặc dù phát triển kinh tế của Việt Nam bề mặt có vẻ tốt đẹp với một tương lai đầy hứa hẹn nhưng nhìn vào một số dấu hiệu, các nhà quan sát kinh tế đã tỏ vẻ dè dặt về sự tiến triển này và cho rằng Việt Nam có thể sẽ gặp những trở ngại gây nguy cơ cho nền kinh tế của mình. Sự phát triển kinh tế ở Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ dựa vào hai yếu tố là số tiền do nước ngoài trực tiếp đầu tư vào và khả năng trao đổi thương nghiệp với những nước khác.
Tổng số đầu tư trực tiếp vào Việt Nam trong năm 2007 đã lên tới 20.3 tỷ Mỹ Kim tức là 70% hơn năm trước và 53% cao hơn là con số dự trù sẽ đạt tới. Số tiền này do ngọai quốc trực tiếp đầu tư vào lãnh vực kinh doanh nhỏ và vào việc nhập cảng thiết bị cho những xí nghiệp và nhà máy. Trong khi Việt Nam hớn hở vì sự “vượt chỉ tiêu” này thì những nhà thiết lập chính sách và kinh tế gia lại tỏ vẻ lo ngại rằng Việt Nam khó có thể hấp thụ và sử dụng hết số đầu tư khổng lồ như thế. Trong khi mức cam kết sử dụng đầu tư trực tiếp từ ngoại quốc gia tăng lên đến 11.3 tỷ Mỹ Kim cho 10 tháng đầu của năm 2007 - tức 36% hơn năm 2006 - thì ngân khoản xuất quĩ chỉ lên tới 4 tỷ  tức là 30% của ngân khoản cam kết. Mức sử dụng ngân khoản đầu tư thấp như vậy cho thấy có sự khác biệt giữa dự tính của những nhà đầu tư và thực tế. Tất nhiên nếu tình trạng này kéo dài thì sự nản chí của những nhà đầu tư đã đổ tiền vào Việt Nam sẽ làm cho những nhà đầu tư khác thối lui. Chính Võ Trí Thanh, một nhà kinh tế hàng đầu của Học Viện Quản Trị Kinh Tế trực thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư đã nói lên sự lo âu này như sau: “Chúng tôi hiểu rằng mức xuất quĩ chậm, nếu không được cải sửa, sẽ làm những nhà đầu tư nản lòng.”  Theo những quan sát viên, một trong những yếu tố Việt Nam cần phải thực hiện gấp là cải sửa hệ thống pháp lý và phương thức quản trị, đồng thời diệt thói quan liêu và hủy bỏ những thủ tục hành chính rườm rà – một cuộc thăm dò do Ngân Hàng Thế Giới thực hiện đã xếp Việt Nam vào hạng 91 trên 178 - Thái Lan được xếp hạng 15 - trong số những nước được coi là dễ làm ăn. Nếu không thay đổi lối làm ăn chắc chắn Việt Nam sẽ không còn được hưỏng mức đầu tư cao như hiện nay.

Ngoài hai yếu tố luật lệ và hành chánh bất thuận lợi vừa nói, hạ tầng cơ sở, đáng kể nhất là hệ thống vận chuyển và hệ thống điện lực, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của những nhà đầu tư. Ông Alain Cany, chủ tịch Phòng Thương Mãi Châu Âu tuyên bố: “Với nhu cầu của những con tầu chở containers hàng vượt quá khả năng của những bến cảng trong năm nay, tình trạng những bến cảng trong nước là một vấn đề tối quan trọng, một vấn đề có thể làm giới hạn sự đầu tư trong tương lai nếu không được giải quyết toàn bộ và kịp thời.” Ông cũng đề cập đến vấn đề điện lực như sau: “Luật lệ về điện lực thay đổi xoành xoạch gây nguy cơ đến một số những kế hoạch do ngoại quốc đầu tư trong lãnh vực này và ngay cả trong những lãnh vực khác.”. Ông Paul Fairhead thuộc Phòng Thương Mãi Úc Châu  tuyên bố rằng vì điện lực và phương tiện liên lạc giao thông không tin cậy được nên những nhà đầu tư mất cả tiền lẫn thời giờ. Gay go nhất là trường hợp thiếu hụt điện trầm trọng khi mà sản mức xuất điện lực không thoả mãn đủ nhu cầu của những nhà đầu tư. Việt Nam sẽ thiếu từ 4.3 tỷ cho đến 10.3 tỷ kilowatt kể từ nay cho đến 2009. Ngân Hàng Thế Giới thẩm định rằng cho tới năm 2010, Việt Nam cần đầu tư 5 tỷ Mỹ Kim mỗi năm vào công việc phát triển hạ tầng cơ sở.

Ngoài ra còn vấn đề lao động. Phẩm chất của nhân công không cao và không phân chia đồng đều cũng là một yếu tố làm cho những nhà đầu tư phải đắn đo suy nghĩ. Việc cung cấp lao động trong nước có đủ tay nghề là một khó khăn khó giải quyết vì hệ thống giáo dục và chương trình giảng dạy quá lỗi thời, không thể đào tạo được nhân công làm việc trong một môi trưởng sản xuất tân tiến. Để có thể vượt được trở ngại này nhà nước cần phải nhanh chóng cải tổ nền giáo dục, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để những người có khả năng chuyên môn ở nước ngoài về làm việc.
Một vấn đề nhức đầu khác là sự bất quân bình trong cán cân ngoại thưong và nạn lạm phát. Theo báo cáo của nhà nước, Việt Nam có mức phát triển 8.5% và lượng xuất cảng  lên tới 48.3 tỷ Mỹ Kim trong năm 2007, nhưng mức lạm phát trong tháng 12 lại lên tới 12.6%. một mức độ cao chưa từng thấy trong 10 năm vừa qua. Giá cả thực phẩm tăng 21.1% - và theo dự báo kinh tế sẽ còn tăng thêm 1.7% trong dịp Tết Nguyên Đán -  giá nhà và nghiệp vụ xây cất tăng 17.12%, giá thuốc men và dịch vụ sức khỏe tăng 7%. Cho đến tháng 11 vừa qua, chỉ số giá tiêu thụ gia tăng đều đặn 10%, một sự gia tăng cao nhất kể từ 1996. Chính phủ đã không đủ khả năng ngăn chặn mức lạm phát và người ta tiên đoán rằng lạm phát sẽ còn cao hơn nữa do việc nhà nước tăng giá dầu 15%. Lạm phát và giá cả gia tăng là hậu quả của gia tăng mức đầu tư của ngọai quốc vào Việt Nam.Theo lới giải thích của một số quan sát viên, để đáp ứng số đầu tư lớn lao như vậy, nhà nước đã phải cho lưu hành thêm giấy bạc làm cho đồng tiền mất giá.

Một vấn đề gay go nữa cho Việt Nam là, không như những nước Á Châu khác, xuất cảng không đủ để bù đắp nhập cảng. Mức độ thâm thủng ngọai thương của Việt Nam năm 2007 đã tăng gấp đôi vì số lượng nhập cảng nhẩy vọt do việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.  Theo thống kê mới nhất thì mặc dù xuất cảng gia tăng 22% nhưng nhập cảng lại tăng 35% và nay lên tới 60.8 tỷ Mỹ Kim làm cho cán cân ngoại thương Việt Nam thiếu hụt 12.4 tỷ Mỹ Kim tức là gấp đôi năm trước. Sở dĩ có sự thiếu hụt này là vì phần lớn số nhập cảng là bán thành sản phẩm, loại sản phẩm không mang lại giá trị gia tăng cao. Hiện nay Việt Nam có đủ ngoại tệ do các nước ngoài đầu tư, viện trợ, và do người Việt ở hải ngoại gửi về để bù đáp số thâm thủng nhưng nếu cứ thâm thủng ngày một nhiều thì đến một lúc nào sẽ không đủ ngoại tệ để bù đắp và đó sẽ là một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế.
Sau cùng là vấn đề thiếu hụt ngân sách, một tệ nạn vẫn xẫy ra từ nhiều năm nay. Nguyên nhân là những vụ chi tiêu không dự trù trong ngân sách lên tới 3% cho tới 5% tổng sản lượng nội địa (theo con tính của Quỹ Tiền Tệ Thế Giới). Ngoài ra số tiền nhà nước thu vào phần lớn là do tiền bán dầu lửa mà giá dầu lửa trên thế giới lại trồi xụt bất tử. Một yếu tố chót là hậu quả của việc gia nhập WTO. Những điều kiện của WTO buộc Việt Nam phải giảm thuế nhập cảng  làm cho số thu quan thuế giảm bớt 10%, nay không còn  đủ để bù đáp sự thiếu hụt ngân sách nữa.

Kết Luận: Mặc dù “nỗ lực” phát triền kinh tế, mức lợi tức trung bình theo đầu người (per capita income) cũng đã chỉ lên được đến 833 Mỹ Kim, một mức độ chưa đủ để đưa Việt Nam ra khỏi danh sách những nước đang phát triển có lợi tức thấp. Nhiều gia đình vẫn còn phải trông mong ở tiền trợ cấp của bà con họ hàng sinh sống ở ngọai quốc. Với đời sống khó khăn bội phần so với năm ngoái, số tiền do người Việt sinh sống ở ngoại quốc gởi về - mà chính phủ Cộng Sản Hà Nội gọi là “kiều hối” -  năm nay gia tăng gần như gấp đôi. Sau cuộc tổng kết cuối năm, những ngân hàng lớn như Vietcombank, Sacombank, East Asia Bank và Incombank đều đã cho biết rằng cho đến tháng mười một năm 2007, số tiển chuyển qua họ đã lên tới gần hai lần hơn năm trước. Theo ước tính của các ngân hàng, số tiền do chúng ta gửi về trong dịp Tết và do những kiều bào “về quê ăn Tết” năm nay – riêng cho Miền Nam cũng đã lên tới khoảng 120,000 người - cũng đã lên tới bạc tỷ. Tờ New York Times mới đây đã viết rằng tổng số tiền do các người Việt ở hải ngoại gởi về đã lên tới con số kỷ lục là 6,82 tỳ Mỹ Kim - mặc dù nhà nước Việt Nam rút con số này xuống còn 5 tỷ - và Ngân Hàng Nhà Nước tuyên bố rằng họ không biết số “kiều hối”này đã đi đâu. Như vậy nhà nước Việt Nam cũng đã thu được một số hối đoái lớn. Do đó, chúng ta hiểu được tại sao họ không ngừng tuyên truyền rằng “bà con kiều bào là một bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc” trong khi những người tha thiết với việc gia tốc hóa cái chết của chế độ Công Sản lại kêu gọi chúng ta đừng gởi tiền về vì chính  đó là phượng  tìện để bọn Cộng Sản tiếp tục ngự trị, tiếp tục làm giàu, và tiếp tục bóc lột và bỏ đói người dân.

Hướng Dương
Xuân Mâu Tý (1-21-2008)

 

Trở lại Đầu Trang