Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Hiện Tượng Nghèo trong Xã Hội Việt Nam
Hướng Dương txđ



Với tình hình kinh tế và tài chính suy thoái trên toàn cầu và tình trạng lạm phát cao trong nước tiếp tục ảnh hưởng đến mãi lực của đồng tiền, dân có tiền lương cố định như công nhân và công chức đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống vật chất hàng ngày. Không những giá cả nhu yếu phẩm tăng mà nhà nước mới đây còn tăng giá điện và giá xăng dầu gây thêm khốn đốn cho họ. Báo chí đã nói đến hoàn cảnh người dân phải trở về với xe đạp, thôi không dùng xe gắn máy nữa, cũng như cắt bớt thời gian dùng điện lực để còn có tiền mua thực phẩm. Nhiều cha mẹ đã bắt đầu phải nhịn ăn để dành phần cho các con nhỏ và có trường hợp con cái phải nhịn cho bố mẹ già yếu, cần sự bồi bổ để sống. Đấy là nói đến những người có nguồn lợi tức vào hàng tháng, nói chi những người nghèo buôn thúng bán bưng, những kẻ thất nghiệp, và nhất là những người dân ở những vùng nông thôn xa xôi hay những người dân thiểu số ở vùng cao nguyên.

Hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh tế trên thế giới đã ảnh hưởng dây chuyền ở nước ta, và mức xuất cảng đã bắt đầu giảm sút vì nhu cầu mua vào của những nước phương Tây nay không còn như trước. Tất cả mọi mặt hàng xuất cảng từ hàng vải, giầy dép, đồ gỗ, càphê, trà, đồ hải sản… đều đã chịu mức sút giảm từ 20 cho đến 30 phần trăm, gây tác động tai hại đến số thu nhập của những công ty sản xuất, đồng thời tạo một tình trạng căng thẳng đối với công nhân về công ăn việc làm. Trước đây có được việc làm đã khó – và giới công nhân đã thường xuyên phải tranh đấu để có được những quyền lợi như họ mong muốn – nay với tình trạng suy sụp về tài chánh và kinh tế, kiếm việc làm thay thế nếu chẳng may bị sa thải sẽ khó khăn hơn biết chừng nào? Các bản tường trình của những hãng thông tấn ngoại quốc gần đây đã liên tục đề cập đến tình trạng sa sút này khi báo cáo mức thâm thủng của cán cân xuất nhập cảng của Việt Nam trong năm nay đã lên tới trên 16 tỷ Mỹ Kim.

Bản báo cáo mới nhất của cơ quan Liên Hiệp Quốc báo động rằng tình hình lạm phát kéo dài đang gây nguy cơ đưa nhiều gia đình người dân trở về với sự nghèo đói cùng cực và họ có thể thiếu ăn, nhất là những nông dân đã bị mất ruộng không thể tự canh tác để sinh sống. John Hendra, chuyên viên LHQ tại Việt Nam nói rằng mặc dù giá thực phẩm và năng lượng trên thế giới đã giảm nhưng mức lạm phát ở Việt Nam vẫn còn ở  mức 26.7 % trong tháng 10 gây cảnh túng thiếu trầm trọng cho những gia đình có ngân quỹ chỉ vừa đủ để sống. Ông cũng đề cập đến sự thể ngoài khó khăn gây ra bởi giá hàng tiêu thụ tăng còn có thêm vấn đề kinh tế thế giới suy thoái gây trở ngại cho việc xuất cảng hàng hóa và làm trì trệ sản xuất rồi sẽ kéo theo nạn thất nghiệp. John Hendra cảnh báo trên truyền hình rằng “nhiều gia đình sẽ rơi vào cảnh nghèo túng và những kẻ đã nghèo sẵn sẽ khốn nạn hơn.” Ông cũng nhấn mạnh rằng đàn bà và trẻ con nhà nghèo sẽ là thành phần thiệt bị nguy nhất bởi vì họ vốn đã thiếu dinh dưỡng.

Những nhà báo ngoại quốc đang gióng lên tiếng chuông báo động rằng dân nghèo đói đang rất bất mãn về sự thờ ơ của nhà nước. Mặc dù Việt Nam là nước xuất cảng gạo lớn thứ hai nhưng việc gạo tăng giá trên thị trường thế giới chỉ làm lợi cho một số ít nhà sản xuất và buôn gạo trong khi quá 50% những gia đình khác không còn đủ tiền để mua thực phẩm. Tình trạng này không phải chỉ là tạm thời, John Hendra tuyên bố, mà nó có viễn ảnh sẽ kéo dài, làm cho những người già cả và những người dân không có đất phải đi làm mướn không có cơm ăn. Điều đáng lo ngại khác là vì không có đủ ăn nên những đứa bé thuộc những gia đình nghèo sẽ phải bỏ học và nếu ốm đau thì sẽ không có tiền để săn sóc sức khỏe.

Đứng trước thảm cảnh này nhà nước vẫn chưa ra tay hành động, chưa đưa ra một kế hoạch nào để giúp đỡ lớp người nghèo. LHQ kêu gọi nhà nước phải nhanh chóng thiết lập những chương trình an sinh xã hội hữu hiệu, phải thu thập những số liệu chính xác về những người nghèo đói, và phải nhanh chóng nhận định những ai thuộc thành phần cần cứu giúp để mà ra tay liền. LHQ cũng cảnh báo rằng việc lấy đất canh nông để dùng vào những mục tiêu phát triển kỹ nghệ, xây cất nhà ở và những trung tâm giải trí đã tỏ ra là tai hại vì nó đe dọa lâu dài tình trạng an ninh thực phẩm của người dân.

Trước nguy cơ đói khổ trùm lên đầu số đông người dân, chính phủ nay đã phải bằng lòng cho cơ quan từ thiện Caritas Vietnam, một cơ quan chuyên cứu cấp của Công giáo, hoạt động trở lại sau 32 năm vắng bóng. Đức Cha Dominique Chu Trinh, chủ tịch Caritas Vietnam tuyên bố: “cái khó nhất là hiện tượng nghèo đói của nông dân; mà đa số người dân lại sống ở nông thôn. Vì bao nhiêu thập niên chống đối, cho đến năm 1990 mới thôi, nên hạ tầng cơ sở ở nông thôn nay vẫn còn trong tình trạng cần phải được sửa sang lại. Càng ngày ruộng đất càng ít và người nông dân không kiếm được ra công ăn việc làm.” Với số dân ở nông thôn đổ ra thành thị để kiếm sống, nhà nước chưa có kế hoạch giúp đỡ gì họ mà hạ tầng kiến trúc của các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí minh thì lại không cho phép thu nhận số di dân lớn lao này. Caritas còn tuyên bố: “Số người tàn tật rất cao mà sự trợ giúp của nhà nước đối với những đứa bé tàn tật cần hội nhập xã hội thì rất giới hạn.” Tuy nhiên công cuộc cứu giúp của Caritas Vietnam chỉ chú tâm hướng vào tầng lớp người nhất định bị xã hội bạc đãi gồm người tàn tật, mồ côi, dân thiểu số, trẻ em nghèo, đàn bà sống trong cảnh túng quẩn và bị hành hạ, phũ nữ bị đem bán, kẻ nghiện ngập, và người mắc bệnh HIV/AID. Theo lời của Đức Giám Mục Yvon Ambrose, chủ tịch Caritas Á Châu, tổ chức này sẽ tiến hành một quá trình giúp đỡ lâu dài những nạn nhân bằng cách tạo cơ hội cho họ có thể tái du nhập vào xã hội và có một cuộc sống tốt đẹp mà họ có thể tự hào.

Tại Sao còn Hiện tượng Nghèo ở Việt Nam?
Cứ nghe những báo cáo về phát triển đất nước và nhìn hình ảnh những khu cao ốc hay những khu nhà giàu cũng như đi thăm các thành thị và những khu vực ăn chơi, khu nghỉ mát hay khu sòng bài thì nhận thức về đất nước ta ngày nay dễ bi sai lạc. Lý do là vì cảnh nghèo đói đã bị đẩy ra xa những nơi phồn vinh giả tạo. Một nhà báo Mỹ đi một vòng đất nước ta bằng xe bình bịch với một nhóm người ngoại quốc khác đã viết rằng 70% dân nước ta còn sống trong cảnh nghèo. Nhưng những bản báo cáo mà nhà nước đưa cho những cơ quan tài chánh và nhân đạo thế giới thì lại nói rằng không còn hay còn rất ít người ở dưới lằn mức nghèo (poverty line) theo định nghiã của quốc tế.

Tại các nước lớn trên thế giới, nơi có đông những người Việt đến tị nạn, từ hơn mười năm nay thường có những tổ chức thiện nguyện của Việt Kiều mang tiền bạc và vật chất về cứu giúp người cơ cực ở Việt Nam. Các phong trào quyên tiền để giúp đỡ người khốn khổ ở quê nhà ngày càng phát triển mạnh mẽ khắp nơi và cả những tổ chức từ thiện ở Việt Nam cũng gửi người đi tiếp xúc với Việt Kiều để vận động xin tiền. Những buổi gây quỹ từ thiện tổ chức trong lòng những cộng đồng người Việt sinh sống ở ngoại quốc rất sôi nổi, giới Việt Kiều trẻ hăng hái tham gia tích cực, họ đứng lên kêu gọi sự hy sinh và lòng nhân ái của mọi người trong công tác giúp những kẻ khốn đốn ở Việt Nam. Những buổi trình diễn ca nhạc, bán đấu giá, hay dự tiệc tiếp đón đại diện những tổ chức từ thiện từ bên nước nhà tới thường gặt hái được những kết quả rất đáng khích lệ. Khích lệ không phải vì số tiền thu gặt được nhiều, vì số tiền hàng trăm ngàn mỗi lần thu cũng chỉ là hột muối bỏ biển, mà là vì nó biểu hiện tinh thần yêu dân tộc yêu quê hương của giới trẻ gốc Việt, biểu hiện lòng nhiệt thành và  sự tha thiết của họ đối với mảnh đất của ông bà cha mẹ mặc dù họ không là công dân Việt. Nói là hột muối bỏ biển không có ý nói rằng việc làm đó không mang lại lợi ích. Vì tất nhiên là công việc từ thiện nào cũng tốt, cũng đáng hưởng ứng, đáng làm. Đó là hình thức chia ngọt xẻ bùi, góp phần mang lại miếng cơm manh áo cho người không có ăn có mặc. Ngay cả tại những nước tiến bộ cũng có những tổ chức từ thiện để cứu giúp những người thiếu may mắn, tạo cơ hội cho họ lập lại cuộc đời hay thăng tiến. Bản chất con người là có lòng từ bi bác ái, mong muốn cứu giúp những kẻ hoạn nạn. Thấy việc phải làm là làm, cứu được một người, trăm người, ngàn người là quí vô ngần.

Nhưng còn hàng trăm trăm ngàn người khác không được cứu thì sao? Ai sẽ cứu họ? Vì số người đói khổ hoạn nạn tại Việt nam quá lớn, có thể lên đến hàng triệu người, nếu không có kế hoạch qui mô của chính phủ trung ương thì làm sao giải quyết cho được vấn đề nguy ngập này? Ngay cả những tổ chức từ thiện quốc tế đến hoạt động ở Việt Nam từ hai chục năm nay, từ những ngày đầu cánh cửa đất nước hé mở đón phương Tây, mặc dù có những ngân quỹ kếch sù họ cũng chỉ đóng góp được một phần nhỏ vào công việc cứu một số người tạm ra khỏi cảnh nghèo đói. Những chương trình tài chính vi mô (microfinance) cũng chỉ giúp một số người sống qua một thời gian khó khăn mà thôi. Tại sao vậy? Vì những biện pháp cứu đói giảm nghèo từ bản chất chỉ là những biện pháp nhất thời, không trị căn nguyên của căn bệnh nghèo trong xã hội. Giống như lối chữa bệnh dựa trên triệu chứng (traitement symptomatique), triệu chứng có thể hết nhưng bệnh vẫn còn, sẽ tái phát, khác lối chữa bệnh dựa trên căn nguyên (traitement étiologique). Lời giải thích đó thật đơn giản, nhưng dễ hiểu: Cần phải có một phương thuốc trị căn nguyên của bệnh nghèo ở nước ta.

Bản chất xã hội ta hiện nay còn bất công, nhà nước không màng gì tới giai cấp nghèo. Vì nhà nước chưa để tâm đến hạnh phúc của người dân, nên chưa có chính sách kế hoạch qui củ nâng cao đời sống của người dân nhất là tại nông thôn. Mặc dù lợi tức tính theo đầu người đã gia tăng lên tới 790 đô la nhưng so với những nước khác – như nước Thái Lan kế bên có chỉ số 3400 đô la - thì thấy chưa nghĩa lý gì. Đã thế lợi tức lại không được phân chia đồng đều cho nên số người nghèo khổ còn chiếm hơn nửa số dân. Ai cũng biết rằng ngày nay hố cách giữa giầu và nghèo quá lớn khiến những nhà xã hội học quốc tế phải e ngại rằng không còn có thể thu hẹp cái hố này được nữa.

Giải Quyết Vần Đề Nghèo:
Phát triển đất nước phải đi đôi với việc nâng cao đời sống của toàn thể người dân bởi vì đất nước không phải của riêng ai, không chỉ thuộc quyền sở hữu hay trách nhiệm riêng của những người có quyền hay có tiền (giai cấp cầm quyền và thượng lưu). Người dân ai cũng phải có đặc ân và đặc quyền đóng góp vào việc xây dựng đất nước. Họ phải được cho cơ hội tiến thân để có khả năng giúp nước tích cực hơn. Do vậy, giai cấp nghèo khó - đi đôi với ít học, ít hiểu biết, và ít quan tâm - cần phải được giúp đỡ để thoát khỏi cảnh hèn yếu ngu si và trở nên khôn ngoan, có ý thức và mạnh dạn tham gia vào việc cải tiến xã hội. Trong giai cấp nghèo, như ở nông thôn hiện nay, lớp trẻ phải được giải phóng (emancipated) để thoát khỏi thân phận nghèo và ra khỏi cái giai cấp của cha ông họ. Chỉ có thể như vậy thì xã hội mới có cơ may bước tới cái mức gọi là “tiên tiến” giống như tại các nước Tây Phương bây giờ.

Đây là một công trình lớn lao kéo dài nhiều thập niên, phải thực hiện theo từng giai đoạn để cải tiến xã hội từng bước. Vì dài hạn nên kế hoạch này phải được thực hiện càng sớm càng tốt để đất nước sớm tiến bộ. Công trình giải quyết hiện tượng nghèo đói đòi hỏi trước tiên công sức, ý chí, sự tài giỏi của những nhà lãnh đạo và tiền bạc của nhà nước. Nó phải đi đôi với việc giáo dục tất cả mọi người, nhất là lớp trẻ là lớp người luôn luôn đi tiên phong trong sự nghiệp cải tiến xã hội, mang lại công bình bác ái và hạnh phúc đến cho mọi người. Nhà nước phải là cơ quan tha thiết với tiền đồ của đất nước, nhà nước phải tạo cơ hội thăng tiến cho tất cả mọi người dân, và ưu tiên phải được dành cho những lớp người bất hạnh, nghèo khổ. Bởi chỉ như thế thì mới có sự giải thoát con người khỏi sự khốn khổ và tinh thần nô lệ, cải tiến thân phận con người.

Các bản hiến pháp của những nước tiên tiến bao giờ cũng nhấn mạnh đến sự bình đẳng của mỗi người trước Thượng Đế. Căn bản của mọi thể chế là phải bảo đảm quyền được hưởng đồng đều hạnh phúc mà Thượng Đế hay Trời Đất ban cho và ai cũng phải được hưởng phần may mắn trong cuộc sống của mình. Nói cách khác, không thể để có một yếu tố khách quan hay ngoại lai nào duy trì nỗi bất hạnh nơi con người. Không thể có chuyện có người sinh ra để chiụ nghèo khổ, để bị xã hội ruồng bỏ, để phải chiụ cái kiếp khốn nạn suốt đời.

Trong xã hội tiến bộ, nhất là trong những chế độ xã hội chủ nghĩa Tây Phương, nhà nước bảo đảm mức sống tối thiểu cho con người. Nêú vì bất cứ lý do gì không có lợi tức – như trường hợp tàn tật, già yếu bênh hoạn, thất nghiệp, đông con, v...v… thì nhà nước chu cấp đủ phương tiện để mà sống tạm đàng hoàng như tiền, phụ cấp thực phẩm, nhà cửa, bảo hiểm sức khỏe, v… v… Trong những xã hội đó, vẫn còn người “nghèo” nhưng cái nghèo đó khác với cái nghèo của những nước chậm tiến. Cái nghèo đó chỉ có nghĩa là không được hưởng những thứ xa xỉ mà bọn giàu có hưởng. Cuộc sống tối thiểu của người “nghèo” được bảo đảm không đói rách, bệnh tật thì được chăm sóc, trẻ con vẫn được ăn học. Trong xã hội tiến bộ, trẻ con được tạo đủ mọi cơ hội để đi học, không phải trả học phí, được ăn sáng và ăn trưa không mất tiền nếu cha mẹ có lợi tức thấp, được cấp học bổng nếu học giỏi, v.. v… Như thế trẻ con không vì bất cứ một lý do gì mà không đi học. Nghĩ đến nước ta hàng bao nhiêu trăm ngàn đứa trẻ chỉ vì nghèo mà không được ăn học thì chúng ta thấy thật đau lòng. Lớn lên chúng sẽ là những kẻ “bảo tồn” hiện tượng nghèo khổ của xã hội.

Làm sao để Giải Quyết Hiện Tượng Nghèo.
Có không biết bao nhiêu yếu tố, bao nhiêu điều kiện có thể nêu ra khi bàn đến phương thức giải quyết vấn đề nghèo. Ý tưởng phong phú của mỗi người góp phần vào sự hiệu lực hoá công việc to lớn mà nhà nước phải đảm trách với sự trợ giúp của cả tư nhân lẫn những cộng đồng thế giới. Tuy nhiên rõ ràng vì tầm mức rộng lớn và nghiêm trọng của vân đề, chỉ có nhà nước mới có khả năng đứng ra làm công việc này. Đây là điểu kiện tiên quyết, vì nó liên quan đến toàn xã hội, dính dấp đến chính trị, giáo dục, ngoại giao, kinh tế, tài chính, vân vân… , nói tóm lại đến mọi lãnh vực sống của con người. Nói như thế để nhấn mạnh đến hiệu lực toàn diện của công tác này: những tổ chức tư nhân chỉ có thể góp tay vào mà không thể đứng ra làm thay cho nhà nước. Nhìn vào những xã hội tiến bộ phương Tây thì thấy được điều này một cách rõ ràng. Phúc lợi (welfare) của người dân là do nhà nước đảm nhiệm, những tổ chức từ thiện tư nhân chỉ thêm thắt chút đỉnh, cho thêm chút “ơn mưa móc” cho cuộc đời của một số giới hạn người dân.

Việc nhà nước lãnh trách nhiệm giải quyết vấn đề nghèo bắt nguồn từ sự quan tâm của những nhà lãnh đạo đến thân phận của người dân, một sự kiện ít xẩy ra trong những xã hội chưa tiến bộ. Tại những nước trong vùng Đông Nam Á như Malaysia, Thái lan, Phi luật tân, mặc dù mức độ phát triển kinh tế khá hơn nước ta nhưng tình trạng nghèo đói vẫn còn, tuy có thể ít hơn hay ở một tầm mức kém nghiêm trọng hơn. Lý do là vì quyền lợi của người dân không được để ý tới, nhà nước chỉ lo bảo vệ quyền lợi của giai cấp có tiền, giai cấp này nắm quyền hành trong tay. Mức độ dân trí còn thấp nên quyền dân chủ còn kém, nhận thức về mặt xã hội, tức là nhận thức vể tinh thần quốc gia dân tộc còn giới hạn, quan niệm của những nhà lãnh đạo của những nước này là phát triển kinh tế và củng cố chính trị mà không cần phát triển dân chủ.

Ngày nào nhà nước ý thức được nhiệm vụ làm cách mạng xã hội thì đất nước mới bước sang một mức tiến bộ cao hơn. Một khi nhà nước nhận thức được trọng trách xây dựng xã hội thì rõ ràng đã có một bước tiến về mặt dân chủ. Đương nhiên khi đó, nhà nước sẽ hoạch định những chính sách, kế koạch và chương trình để đạt được mục tiêu là đưa xã hội tiến lên. Chính vì nhà nước quan tâm đến hạnh phúc của người dân mà cộng tác xóa bỏ tình trạng nghèo đói, xây dựng một tình trạng tốt đẹp cho người dân mới có thể thành công. Còn như hiện nay, những chương trình xoá đói giảm nghèo chỉ là để đáp ứng sự đòi hỏi của tình thế (tình trạng cấp bách và sự dòm ngó của quốc tế), nhà nước không chủ trương cải tiến xã hội, nâng cao đời sống của người dân, thì làm sao có thể có được kết quả lâu bền? Nhà nước chỉ chú tâm vào việc phát triển kinh tế, bỏ quên phát triển xã hội cho nên sau bao nhiêu thập niên sống trong hoà bình tình trạng nghèo đới vẫn còn đó nếu không muốn nói rằng nó còn trở nên bi đát hơn (so với năm 1975 ở miền Nam)

Nếu đúng như mục đích Cách Mạng đã đề ra là thành lập một chính thể cho dân, vì dân, của dân, nêú quả thật người dân làm chủ đất nước, thì lẽ ra quyền lợi của người dân phải là trên hết chứ không phải quyền lợi của một thiểu số người mới giầu có và có quyền hành trong tay là trên hết. Và nếu công bình thì cả hai giai cấp giầu nghèo đều phải được hưởng, kẻ có công với đất nước phải được hưởng nhiều nhưng không phải vì thế mà xoá bỏ quyền được hưởng của người dân khốn nạn khốn khổ.

Thực Hiện Cải Cách Xã Hội
Muốn đưa xã hội tiến lên tất nhiên đòi hỏi những phương tiện tiền bạc lớn lao nhân lực dồi dào và khả năng hiểu biết chuyên môn cao. Phát triển kinh tế có thể cung cấp phương tiện tài chính và phát triển khoa học kỹ thuật cung cấp nhân lực và tài trí cần thiết. Điều cần nhắc lại là chính phát triển kinh tế giáo dục kỹ thuật khoa học cho phép cải tiến xã hội và ngược lại chính cải tiến xã hội tạo cơ hội cho phát triển kinh tế khoa học giáo dục tiến lên. Để thí dụ, phát triển nông thôn và phát triển kỷ nghệ thương nghiệp có ảnh hưởng hỗ tương vì nếu nông thôn có hạ tầng kiến trúc tốt thì sản xuất ở nông thôn tăng, và nêú người dân ở nông thôn có cuộc sống sung túc hạnh phúc thì họ tham gia tích cực hơn vào sản xuất, con cháu họ sẽ tiến bộ hơn và sẽ đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ở một tầm mức cao hơn.

Thực hiện cải cách xã hội, nâng cao đời sống của người dân nghèo, đòi hỏi thực thi chính sách, chương trình, kế hoạch một cách nghiêm minh và công bình. Loại bỏ những hành xử bất chính, bất công, lạm quyền, lợi dụng và nhất là tham nhũng là điều kiện cần thiết nhất để có thể có kết quả tốt đẹp. Và chỉ bằng cách tập trung quyền chỉ huy, kiểm soát,  điều hành ở trung ương thì mới có thể bảo đảm được sự thành công. Không thể có chuyện để mỗi địa phương định đoạt vì như thế mỗi mơi làm mỗi khác, không chỗ nào giống chỗ nào, gây ra tình trạng hỗn độn khó kiểm tra đánh giá mà lại dễ tạo môi trường cho lạm quyền, lợi dụng, và bất công. Điều hành những ngân quỹ khổng lồ không dễ, chọn những người liêm chính đễ giao phó công việc là cả một vấn đề. Tình trạng tham những bao quát như hiện nay không thể không gây trở ngại cho việc đạt tới những thành quả tốt đẹp. Có lẽ vì vậy mà những tổ chức quốc tế muốn tự họ đứng ra đảm nhiệm công việc cứu giúp người nghèo như hiện nay.

Nói đến những kế hoạch lớn để cải thiện đời sống người dân, như chương trình cải tiến nông thôn chẳng hạn, người ta nghĩ ngay đến một vấn đề căn bản là tiền. Ở đâu ra tiền để công bình trả cho những nông dân ruộng đất bị trưng thu để mở nhà máy, sân golf, thương xá hay những khu nhà ở sang đẹp? Ở đâu ra tiền để mà xây dựng đường xá cầu cống ở nông thôn xa xôi? Ở đâu ra tiền để xây trường học, trả lương thầy cô giáo cho những em bé nhà quê? Ở đâu ra tiền để giúp đỡ những nông dân canh tân hóa phương thức canh tác nhằm gia tăng năng xuất? Ruộng đâu để mà chia cho những nông dân chưa có ruộng? Tiền đâu để mà giúp những nông dân chuyển nghiệp, hướng dẫn họ rời bỏ nông thôn ra thành thị sinh sống? Vân vân và vân vân…
Những thắc mắc trên phải để cho những chuyên gia, những nhà làm kế hoạch, những nhà lãnh đạo đất nước lo liệu. Không thể nại cớ nước chúng ta nghèo để khỏi cải tiến xã hội, khỏi cải thiện đời sống của người dân, khỏi đưa xã hội ta tiến lên theo đà phát triển của nền kinh tế và thương mại, đà tiến của kỹ nghệ và sản xuất. Đã đến lúc phải nghĩ đến hạnh phúc của toàn dân bởi vì phát triển đất nước sẽ không toàn diện nếu thiếu cải tiến xã hội.

Kết Luận:
Nhà nước phải đứng ra đóng vai trò chủ yếu trong công việc cứu giúp người nghèo, đưa họ ra hẳn cái vòng nghèo đói triền miên mà họ đã phải chiu đựng từ lâu. Chính các lãnh tụ đảng, nhất là ông Nông Đức Mạnh, đã trong kỳ họp đảng vừa qua lên tiếng công nhận rằng người dân ở nông thôn đang trải qua một giai đoạn nguy kịch và số người bất mãn đối với chính phủ ngày càng đông, tình trạng này có thể đe doạ sự an toàn của chế độ. Các chuyên viên ngoại quốc phân tích tình hình chính trị ở Việt Nam, kể cả ông Carl Thayer, một chuyên gia về vấn đề Việt Nam nổi tiếng của Úc, đều nêu giả thuyết rằng đang có sự bất đồng ý kiến giữa ông Mạnh và hai ông Triết và Dũng về những phương thức đối phó với những khó khăn hiện nay, cả về mặt xã hội lẫn kinh tế tài chánh. Cả vụ củng cố kiểm soát báo chí lẫn vụ chuẩn bị ra tay trừng trị tôn giáo (Công Giáo) mới đây đều được họ liên kết với những khó khăn xã hội (hiện tượng nghèo đói) và kinh tế tài chánh (lạm phát, xuất cảng xụt, cán cân xuất nhập cảng, nợ quốc tế khó trả nổi). Nay Liên Hiệp quốc lại gióng lên tiếng chuông báo động hiện tượng nghèo đói làm cho chúng ta càng lo lắng thêm cho tình hình bi đát của đất nước.

Hướng Dương
11-1-2008

 

Trở lại Đầu Trang