Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Nhân Duyên
Truyện Ngắn của Hướng Dương txđ



Suốt gần hai chục năm, Quân vẫn mong có ngày trở về thăm lại những trại tị nạn mà chân anh đã lê bước qua trên con đường đi tìm tự do. Vì vậy, nhân dịp ghé Nam Dương trong một chuyến đi công tác, anh đã tìm cách đến hòn đảo nơi anh đã trải qua gần hai năm trời chờ ngày được đi định cư.  Đó là một hòn đảo khá lớn nằm trên Biển Java, ngoài khơi Nam Dương. Anh muốn về thăm nơi đó để nhớ lại những ngày gian nan năm xưa, những gian nan mang kỷ niệm buồn nhiều hơn vui trong cuộc đời mình. Anh nhận thấy rằng những kỷ niệm đau thương thường khắc sâu trong tâm trí con người và làm cho mình khó quên. Mình có nhớ đâu những ngày vui suớng, chỉ nhớ những ngày phải tranh đầu với cuộc sống để mà tồn tại và vươn lên, những ngày mồ hôi hay nuớc mắt nhỏ xuống làm cho mình thấm thiá những nhọc nhằn của cuộc đời.

Những ngày sống yên bình trên đất Mỹ, nhiều khi Quân nhớ lại hòn đảo này, nơi có nhiều cảnh thiên nhiên rất đẹp, có núi, có bờ biển với những bãi cát trắng, sóng nhấp nhô làm cho anh nhớ đến Vũng Tầu hay Đồ Sơn, có bến tàu nơi những ca-nô chạy cả trăm cây số giờ đưa những nhân viên các tổ chức quốc tế giúp người tị nạn từ Nam Dương hay Tân Gia Ba tới lui nơi này. Nhớ đến bến tầu ấy, anh cũng nhớ đến những hình ảnh không vui của những ghe thuyền mà dân tị nạn đã dùng để vượt biển, những ghe thuyền một thời đã ngổn ngang nằm chết ở đấy, chúng đã hiện hình trong ký ức anh như là những chứng tích lịch sử đấu tranh của những con người đã ra đi để trốn cộng sản.

Bao nhiêu người đã chết tức tưởi khi lênh đênh trên biển Đông mà không đến được hòn đảo này? Bao nhiêu người đã được nơi hòn đảo này để rồi lại chết nơi đây? Những ngày anh tị nạn ở đây, chiều chiều anh thường đến đếm những nấm mồ chôn cất nơi nghĩa địa nhỏ trên đảo. Trong cơn buồn của kẻ xa nhà, xa quê hương, anh đã tần ngần ngồi để hồn tưởng nhớ những kẻ đã cố công đi đến đây để rồi ở lại đây vĩnh viển. Anh đã lẩn thẩn cho rằng chết và được chôn ở cái nơi khá thơ mộng này cũng sướng, chết và được chôn cất nơi đây chẳng là một đặc ân của trời cho hay sao? It ra, còn hơn những ai chết bờ chết bụi trong rừng thiêng Kămpuchia, hay chết một cách khốn nạn ngoài biển khơi để thân mình làm mồi cho cá.

Anh đã từ Tanjung Pinang đáp con tàu lướt sóng tốc hành đến hòn đảo trong nửa tiếng đồng hồ. Trên chuyên tàu hôm đó, ngoài một số ít người dân địa phương, chỉ có khoảng chừng năm sáu chục du khách, phần lớn là từ Đài Loan và Nhật; họ đến thắm viếng ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng trên đảo. Anh đã ngồi nói chuyện với một người Đài Loan đồng hành. Ông ta nói với anh:

  • Ông không biết sao? Nơi đây nhiều phép mầu nhiệm đã xẩy ra. Ai đến đây cầu gì cũng được nấy! Ngoài ra còn nhiều chuyện lạ bất thường đã xẩy ra mà không ai có thể giải thích được bằng lý trí.
  • Chuyện gì thưa ông?
  • Vào những đêm có trăng, oan hồn của những kẻ đã chết trên hòn đảo này thường hiện về đùa rỡn hoặc phá phách những người còn sống. Ông chưa đến nơi này bao giờ ư?
  • Đây là lần đầu tôi trở lại nơi đây. Gần hai mươi năm trước, tôi là một người tị nạn. Tôi đã sống ở đây hai năm. Hôm nay tôi về thăm lại nơi này.
  • À! Ông là người Việt Nam?
  • Thưa vâng!
  • Sau khi trại tị nạn bị dẹp, hòn đảo này trở nên hoang vắng. Những người thổ dân sống trên đảo kể lại nhiều câu chuyện mầu nhiệm đã xẩy ra. Du Khách nghe tin ùa đến. Một số nhà sư người Trung Hoa đã đến đây trùng tu ngôi chùa và trụ trì ở đó.
  • Ngôi chùa do người Việt  tị nạn đã xây cất xưa kia?
  • Đúng thế! Và ngôi chùa đó đã là nơi hành hương cho nhiều du khách từ Đài Loan và Hồng Kông  đến. Sau này, nhiều du khách các nước khác nghe tin nơi đây có phép lạ cũng đến viếng và cầu xin.
  • Vậy nơi đấy đã trở thành một nơi thờ phụng thiêng liêng?
  • Tôi tin là như vậy ! Những oan hồn chết nơi đây đã trở về, biến nơi đây thành một thánh địa. Chúng tôi đến đây để cầu nguyện cho những oan hồn đó đồng thời xin được che chở và ban phước lành.

Sau khi tàu cập bến, Quân đã bồi hồi theo chân những hành khách bước trên chiếc cầu gỗ để xuống đất liền. Lòng anh thắt lại khi thấy lại nơi cũ, tim anh rung động, anh hồi hộp cảm thấy như thể đang có một bàn tay lạ đè lên trên lồng ngực mình, làm cho anh hơi ngộp thở. Anh dương mắt nhìn một tấm bảng khá lớn ghi hàng chữ «Ex Vietnam Refugee Camp». Cả nhóm du khách nhanh bước đi theo một người dẫn đường Nam Dương, vừa đi vừa chỉ chỏ vừa nói một thứ tiếng Anh hơi khó hiểu. Gần đó, một chiếc xe buýt chở khách đang đậu chờ những ai muốn đi ngoạn cảnh. Người đàn ông anh mới làm quen quay sang hỏi anh :

  • Sao cảm tưởng của ông thế nào? Còn nhớ lại nơi đây không ?
  • Cũng còn nhớ chút chút.
  • Mình lên xe đi một vòng hòn đảo, Chắc chắn lát nữa đây những kỷ niệm cũ sẽ trở lại với ông.

Chiếc xe chạy được chừng mươi phút thì một một cảnh hoang tàn hiện trước mắt Quân. Những hình ảnh xưa anh còn giữ trong ký ức nay không còn nữa. Nơi đây không còn là cái trại tị nạn nơi anh đã được đưa tới sau khi chiếc ghe chở hơn năm chục người đã trôi dạt vào một cù lao ngoài khơi Nam Dương vào năm 1980. Chuyến ra đi vượt biển đó đã mất hơn mười hai ngày để từ Cần Giờ đến được Nam Dương. Mười hai ngày kinh hoàng, anh đã sống để thấy sự khốn khổ của con người khi phải trải qua những cơn đói khát mệt lả, sống thoi thóp, và sau cùng là chết vì không chịu đựng nổi sự gian nan của cuộc đi.

Chiếc xe ca chạy lòng vòng trên con đường trải nhựa còn được bảo trì tốt, một phần vì nơi đây vẫn còn người địa phương cư ngụ, một phần khác vì hàng ngày có du khách đến thăm thắng cảnh thiên nhiên của rừng núi biển cả. Hai bên con đường, Quân chỉ thấy cây cỏ mọc chi chít, xanh tươi vì mặc dù trời nóng bức kinh hồn, gió biển thổi lồng lộng nhưng có những cơn mưa mùa đổ xuống như thác nước, kéo dài hàng giờ trước khi mặt trời nóng bỏng lại hiện lên.

Con đường trải nhựa này hai mươi năm  trước kia tấp nập những đôi trai gái, những đàn ông đàn bà con nít đi dung dăng dung dẻ. Những ngày ăn không ngồi rồi đó, họ dắt díu nhau đi bộ, đi dong chơi cho chóng qua ngày. Họ kéo nhau đi tắm biển hoặc đi nơi này nơi kia tìm những người quen biết, hy vọng gặp lại được trong số hàng ngàn người sống tị nạn nơi đó những bà con hay bạn bè để cùng nhau than thở về cuộc đời hay chỉ để tán gẫu.

Khi xe đi qua những vùng xưa kia có những dãy nhà gỗ dài hai từng, mỗi phòng nhỏ dành cho một gia đình tá túc, Quân chỉ thấy những cây rừng chi chít, phủ kín cả những con đường đất mà trước kia dập dìu người tỵ nạn. Sự đổ nát hoang tàn hiện ra trên cả một vùng rộng mênh mông. Những barrack biến đâu mất chỉ còn trơ lại những mảnh tường ván hay những cột nhà xiêu vẹo nay làm nơi trú cho đàn khỉ hàng trăm con nhẩy múa nhìn chằm chặp chiếc xe đi qua với đôi mắt tựa như mắt người. Các du khách thi nhau chỉ chỏ, nói chuyện xì xồ, cười đùa lên tiếng. Quân thấy dâng lên trong lòng một nỗi buồn da diết, những kỷ niệm gắn bó anh với nơi đây đã không như anh hằng tưởng. Sự thật bao giờ cũng phũ phàng. Hai mươi năm trôi qua, đã có bao nhiêu biến đổi, anh thấm thiá với sự vô thường của đời người, với sự thay đổi của vạn vật bao quanh chúng ta. Không có gì tồn tại mãi trên cõi đời này, nhưng mình đâu có ý thức chuyện đó ?

Quân nhớ lại hình ảnh những căn nhà gỗ hai từng tương đối khang trang lập nên cho dân tị nạn, và anh vẫn còn nhớ anh đã được cấp cho một căn phòng ở từng trên, có cây cầu thang gổ để đi lên đi xuống. Anh hay ngồi trên nấc thang chót trên cao ngắm cảnh sinh hoạt của trại, hay nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây nhớ đến gia đình, và các bạn bè còn ở lại Saigon. Anh đã phải ở nơi đó gần hai năm, hai năm mà anh có cảm tưởng như hai chục năm, vì thủ tục xin đi định cư kéo dài chậm chạp, những ngày tháng trôi qua trong sự vô vọng và buốn bã chán chường, trong sự lo lắng không biết tương lai sẽ đi vể đâu, ngày mai sẽ ra sao.

Những lúc không biết làm gì, anh đã đi đến ngôi chùa có bức tượng Phật to lớn và đẹp để ngồi trên chiếc đu cột trên cành cây ngoài sân, trước lối cửa vào đại sảnh, ngửi mùi hương trầm và suy tư về niềm tin và con người. Chiều về, khi ánh nắng gay gắt đã nguôi ngoai, gió mát từ biển Java thổi vào, anh đi dạo trên những con đường sỏi đá chạy dọc theo bờ biển, đi hàng mấy cây số để đến những quán lá bán cá phê ngồi nghe nhạc vàng, nhớ về quê hương anh đã xa cách. Ôi những buổi chiều buồn day dứt ấy nhưng lại đáng sống, đáng hưởng, những buổi chiều mang bao ý nghiã của cuộc đời con người, trải qua bao đắng cay mới đến được bến bờ này, nay ngồi hưởng những phút suy tư trong tiếng nhạc tiếng hát, bên hương vị của tách cà phê và những điếu thuốc. Anh đả từng ngồi như thế, đôi khi với những người bạn mới, nhưng thường thì là một mình, bởi vì anh đâu có đến đó để vui, để nói chuyện, để cuời? Anh đến đó để buồn, để nhớ, để trầm tư mặc tưởng.

Quân đang để hồn quay trở về với quá khứ thì anh giật mình tỉnh dậy khi chiếc xe dừng lại và chỉ chừng vài phút sau anh thấy mọi người trên xe lục đục đứng dạy chuẩn bị xuống xe. Anh bồi hồi đi theo lớp hành khách qua những con đường đất đỏ để vào phía sâu bên trong, nơi đây anh thấy, trong cảnh lạnh tanh không chút hương khói, một nghĩa trang với hàng trăm ngôi mộ của những kẽ đã bỏ mạng nơi đây vì bệnh tật, bị rắn cắn, hay đã tự vẫn vì quẩn trí khi thấy những người thân yêu của mình đã chết hết trên con đường vượt biển. Nhiều cô gái, điên vì đã bị hải tặc hãm hiếp, không còn thiết sống nữa. Họ đi tìm cái chết bằng cách nhẩy xuống vực thẳm hay treo cổ tự tử trên những cành cây.

Những du khách phụ nữ đã thoăn thoắt đi quanh những nấm mộ, cắm những bông hoa và những cây nhang nghi ngút khói xuống đất rồi quì xuống miệng lẩm bẩm khấn. Quân nhìn những kẻ lạ đó làm công việc khấn xin bằng tiếng ngoại quốc mà bùi ngùi. Anh lẩn thẩn nghĩ: «Khấn bằng tiếng Trung Hoa, tiếng Nhật, hay tiếng Nam Dương như thế thì làm sao mà ngưới chết hiểu cho được?» Rồi anh lại tự trả lời câu hỏi của mình: «Có thể trong cõi chết mọi người cùng nói một thứ tiếng và những lời cầu xin kia đã được chuyển đến cõi chết bằng cái thứ tiếng mà ai cũng hiểu đó?».

Trong đám người đi cầu xin những hồn thiêng nơi đây, ngoài những kẻ lớn tuổi mang nhiều nối thống khổ của một đời người, còn có những cặp thanh niên thanh nữ, họ dắt tay nhau đi viếng từng ngôi mộ, nét mặt phảng phất một nỗi buồn sâu sắc, vẻ mắt đăm chiêu. Họ đến nơi đây để cầu xin điều gì? anh tự hỏi. Có thể họ cầu xin được hạnh phúc bên nhau cho đến khi chết? Hay họ là những cặp vợ chồng hiếm muộn cầu xin có được một mụn con?

Nghĩ đến đây, anh nhớ đến Nhàn vợ anh còn ở nhà. Hai đứa đã lấy nhau đã gần mười năm mà chẳng có con. Đối với anh thì cũng không sao, không có con thì càng đỡ vất vả, vì đời sống bên Mỹ đầu tắt mặt tối, đấu tranh với cuộc sống hàng ngày cũng đã đủ thấm mệt. Nhưng Nhàn thì lại nghĩ khác. Nàng cần có một đứa con để cuộc đời có ý nghiã, để hai vợ chồng thêm gắn bó với nhau, để gia đình thêm hạnh phúc. Nàng nói như trong cơn mơ: 

  • Em mong có được một đứa con thông minh như anh và đẹp như em.. 
  • Như vậy là em muốn có con gái hả? Quân hỏi nàng.
  • Vâng, em thích có con gái để sau này khi hai đứa mình về già nó ở gần bên chúng mình!
  • Em nói có lý lắm! Anh cũng thích nếu có con thì có con gái! Con trai đời này chẳng biết thương yêu bố mẹ.

Quân nói vậy thôi chứ trong đầu anh vẫn nghĩ là hai đứa sẽ chẳng có con. Anh nay đã gần năm chục tuổi mà Nhàn thì đã gần quá cái tuổi để sinh con đẻ cái. Anh nghe nói ở cái tuổi trên bốn mươi của Nhàn, có con lần đầu không là chuyện đơn giản và nhiều vấn đề sức khỏe đặt ra cho đứa bé. Nhưng Nhàn thì cứ khư khư cho rằng nay y khoa đã tiến bộ và, không như xưa, đàn bà trước tuổi năm mươi vẫn có thể có con được. Mỗi lần đi chùa, nàng vần khấn xin Trời Phật cho nàng có được một đứa con. Nghĩ đến đây, Quân đi quanh quẩn tìm một nấm mộ để cầu xin hộ cho Nhàn. Anh đi tìm một oan hồn linh thiêng để xin được giúp đỡ.

Đi được hơn trăm bước tự nhiên Quân thấy như thể anh bị thu hút bởi một tấm bia xi măng nhỏ phủ đầy rêu xanh, trên đó chỉ có vỏn vẹn hai hàng chữ khắc xâu:

Trần Thu Hằng
1964-1981

Anh nghĩ người con gái chết ở cái tuổi mười sáu xa quê hương xa gia đình trên hòn đảo hẻo lành này chắc đã phải chịu một cái chết hẩm hịu oan uổng và như thế oan hồn vẫn còn vấn vương với cõi trần gian, cầu xin nàng sẽ được nàng giúp đỡ. Anh vội xin người đàn bà đi ngang qua một nén hương và cắm xuống ngôi mộ. Anh ngồi bên mộ, hai tay chắp lại và dùng những lời mộc mạc khấn, vì cả đời anh có khấn bao giờ đâu để mà biết phải khấn ra làm sao: «Tôi tên là Quân và vợ tôi tên là Nhàn cầu xin ở đây hồn người quá vãng Trần Thu Hằng ban ơn cho chúng tôi, xin giùm Trời Phật cho chúng tôi có được một đứa con gái, chúng tôi nguyện trả ơn theo như ý người muốn.» Vừa nói đến đây thì tự dưng Quân cảm thấy như có một luồng sóng đìện chạy dọc xương sống làm cho anh rùng mình và hơi sởn tóc gáy. Mắt anh hoa đi trong vài giây và trong khoảnh khắc anh có cảm tưởng như thấy có một người con gái hiện ra trước mắt, một người con gái xinh đẹp với dáng điệu rất hiền hoà, thùy mị. Sau khi tỉnh trí, anh tự hỏi không biết mình đã tưởng tượng hay là sự thể đã diễn ra thật như thế. Có một điều anh cảm thấy hơi mệt mỏi, tâm thần hơi dao động vì kinh nghiệm này, anh chưa có bao giờ trong đời. Anh nghĩ đến Nhàn và hy vọng lời cầu xin của anh sẽ ứng nghiệm và nàng sẽ có được một đứa con như nàng vẫn mong muốn từ bao lâu nay.

Sau khi thăm viếng nghĩa trang, cả nhóm như một đàn cừu lững thững leo lên sườn đồi để đến một ngôi chùa to lớn khang trang do các nhà sư Nam Dương gốc Hoa dựng lên bên cạnh ngôi chùa nhỏ xưa kia do một nhà sư Việt trụ trì khi nơi đây còn là trại tị nạn. Vì biết trước có đoàn du khách đến thăm nên chùa đã chuẩn bị tiếp đón và  tổ chức một buổi lễ để cho mọi người tham dự. Trước sân chùa khói hương bốc lên nghi ngút từ một lư đồng đen khá to lớn đặt nơi chân một pho tuợng Phật Bà Quán Âm cao hai thước. Hai bên sân có những sạp nhỏ bán hương hoa và vài thứ vật kỷ niệm cho những du khách mua về để giữ làm kỷ niệm cuộc thăm viếng đảo.

Quân mua một bó hoa và một bó hương rồi bước vào trong đại sảnh. Anh đến cắm hoa vào những bình hoa đặt dài đưới chân một tượng phật to lớn cao chắc cũng phải gần ba thước. Anh đến gần ngọn đèn dầu, đốt bó hương rồi đến cắm nơi những bát hương xung quanh. Anh quì gối niệm Phật và cầu xin cho linh hồn các người đã chết trên hòn đảo này sớm được siêu thoát. Sau đó anh đã cùng nhóm du khách dự buổi cầu nguyện kéo dài hơn nửa tiếng đồng hồ. Do tình cờ hay do nhân duyên, anh đã ngồi cạnh một người đàn bà Việt nay sinh sống ngay trên hòn đảo. Trước kia, bà là một người tị nạn nơi đây, và khi trại đóng cửa và những người còn lại bị trả về Việt Nam, bà đã lấy một người đàn ông địa phương và ở lại lập nghiệp trên hòn đảo. Bà sinh sống bằng nghề phụ giúp nhà chùa làm công việc dọn dẹp và nấu nướng cho các nhà sư. Bà nói với Quân :

  • Anh biết không, mỗi người có một số phận. Số em không may nên không được nước nào nhận cho đi định cư hết trơn. Đến khi chính phủ Nam Dương đuổi bọn em về nước, em chỉ muốn tự tử mà chết thôi! Nhiều người quá thất vọng đã nhẩy xuống vực thẳm hay treo cổ tự tử anh ơi !
  • Số dân mình thật khổ, chạy giặc cộng sản cũng không xong! Nhưng thôi bây giờ đời sống chị cũng đã tương đối ổn định rối. Thế cũng là may mắn lắm đó !
  • Thì em cũng chẳng còn mong gì hơn là sống cho hết kiếp này nơi đây! Còn hơn là chết tức tưởi để rồi oan hồn cứ tối tối vể nơi đây than khóc hay phá phách phải không anh ?
  • Chị nói gì? Oan hồn ai?
  • Thì oan hồn những người đã tự vẫn vì qua ức hóa nên điên rồ chứ còn ai nữa !
  • Nhưng đã gần hai chục năm trôi qua rồi !
  • Thời gian chẳng xóa nhoà được sự oán hận và những hồn kia vẫn còn vất vưởng nơi đây đó anh à! Em nghĩ nếu có người thân thương cúng bái xin lễ cầu siêu cho thì may ra những oan hồn đó có thể được giải thoát, nhưng có mấy ai làm việc đó đâu hả anh ?

Quân nghe nói như thế mà thấy đau lòng cho những hồn ma sống vất vưởng vì chưa được giải thoát. Nhưng biết ngày nào mới được siêu thoát khi mà nghiệp còn nặng nợ với trần gian? Anh tò mò muốn biết xem sự thật có đúng như người đàn bà vừa nói với anh hay không nên anh tính trong đầu tối hôm đó anh sẽ ở lại trên đảo để điều tra xem sự thể ra thế nào. Do vậy, sau bữa ăn trưa, anh liền lên văn phòng nhà chùa xin tá túc lại đêm hôm đó. Nhà Chùa có một dãy nhà ở phiá sau đại sảnh làm nơi dành cho những ai muốn ở lại tham dự vào những lớp học phật pháp hay dự vào những chương trình sinh hoạt của nhà chùa.

Tối hôm đó gần ngày rằm, trăng toả ánh sáng xuống cả khu rừng âm u, xuống những sườn núi có những cây cao vút, Gió biển thổi làm những cành cây trao qua trao lại trông như những bóng ma khổng lồ. Ánh trăng mờ ảo tỏa xuống những con đường sỏi đá đưa xuống bãi biển. Sóng vỗ dì dào như thể muốn nô đùa với ánh trăng. Tuốt xa, biển Java đen như mực, lóng lánh ánh sáng, mặt nước lung linh phản chiếu ánh trăng, làm nên những vệt sáng vĩ đại, trông vừa vui mắt, vừa gây nên một cảm hứng thích thú thật thơ mộng. Gió biển nhè nhẹ thổi, đủ lạnh để làm cho Quân nổi da gà. Anh lấy hai bàn tay lần lượt xoa xoa hai cánh tay, rụt cổ lại, khẽ rùng mình. Nhưng cảnh đẹp thiên nhiên bất hủ này đang thu hút tâm hồn anh; anh cảm thấy một thứ hạnh phúc lạ lùng khi lững thững đi một mình trên bãi biển vắng hoe không một bóng người. Trước mặt anh là sự vô biên của biển cả, của thiên nhiên. Anh cảm thấy bé nhỏ, như thể anh chỉ là một hạt cát trong sa mạc, một giọt nước trong đại dương, hay một ngôi sao trong vũ trụ mênh mông, anh nghĩ đến sự mong manh của con người.

Anh đang ngồi mơ mộng dưới ánh trăng thì bỗng nhiên anh nghe như thế có một hai viên sỏi từ xa bay tới, tiếng sỏi bay vụt qua tai anh để rồi rớt xuống đất nghe cái cạch, và lăn đì trên bãi cát. Anh cảm thấy hơi rờn rợn khi nghĩ đến những lời người đàn bà đã kể cho anh nghe lúc trưa nhưng rồi lại tự nhủ: «Chắc mình tưởng tượng đấy thôi ! Làm gì có ai xung quanh mình đâu để mà liệng đá vào mình?». Quả nhiên sự yên tĩnh trở lại trong một khoảng thời gian khá dài, đủ để tâm hồn anh chìm  trở về với sự mơ mộng dở dang. Nhưng rồi một loạt sỏi khác lại từ đâu bay tới, nhưng viên sỏi nhỏ bay vù vù qua đầu anh, một viên trúng ngay lưng anh làm cho anh đứng phắt dậy, quay nhìn xung quanh. Anh cố dương mắt nhìn sau những bụi cây xem có bọn con nít nào trốn nơi đó phá dọa anh hay không, nhưng chẳng thấy gì. Thế rồi lúc anh vừa ngồi xuống thì những viên sỏi lại từ đâu bay tới, lần này kèm theo những tiếng cười khúc khích. Và ngay sau đó anh nghe có tiếng người nói từ phía sau lưng:

  • Thôi tụi bay ! Đừng phá người ta nữa ! Để cho người ta yên đi!

Anh vội quay lưng lại nhìn thì thấy một người con gái tuổi chừng hai mươi, tóc dài đen láy, mặc một áo bà ba trắng và một quần vải lĩnh bóng màu đen. Nàng từ từ đi xuống phía anh. Mắt anh hoa lên và anh có cảm tưỡng như những bước chân của nàng nhẹ nhàng lướt trên con đường đá sỏi, đôi bàn chân nàng mà anh thấy lờ mờ không rõ dường như không chạm xuống đất và anh cũng không nghe thấy tiếng sột soạt của chân bước đi trên sỏi đá.

Khi nàng đến gần hơn thì anh có cảm tưởng như đã gặp nàng ở một nơi nào đó, bóng dáng nàng trông quen quen, óc anh cố liên tưởng đến một sư gặp gỡ trong quá khứ. Người con gái ngồi xuống bên anh nói :

  • Em xin cám ơn anh đã ghé thăm em sáng nay. Đã bao năm rồi em cầu mong được một nén hương và một tấm lòng ưu ái….
  • Em là Hằng, Trần Thu Hằng ?
  • Vâng ! Anh nhớ tên em? Thật là quí hoá!
  • Tại sao em ở lại nơi đây?
  • Ôi đó là một câu chuyện thật dài dòng. Anh có muốn em kể cho anh nghe không ?
  • Em kể đi ! Anh thật muốn biết …
  • Em thật sung sướng được gập anh hôm nay. Em nghĩ Trời Phật đã nghe được lời cầu xin của em nên đã xui khiến anh đến thăm em. Anh sẽ là người cưu mang em. Em nguyện sẽ trả ơn anh…

Quân thấy hai giọt nước mắt lăn xuống hai gò má Thu Hằng. Anh tự nhiên thấy xúc động mãnh liệt, tim anh thổn thức lạ thường, anh muốn với tay ôm Thu Hằng vào lòng, anh muốn vuốt mái tóc nàng, anh muốn nói một câu gì để xoa dịu nỗi đau thương của người con gái bạc phước ấy, nhưng không được. Tay anh cứng đờ không thể giang ra để mà ôm nàng, để mà vuốt mái tóc đen láy chẩy xuống đôi vai bé nhỏ của nàng.  Dường như có một cái gì vô hình ngăn chia anh với Thu Hằng mà anh không biết. Anh nhìn người con gái với đôi mắt đẫn đờ và lòng anh dấy lên một nỗi thương sót tràn ngập. Tai anh vẫn văng vẳng nghe giọng nói của Thu Hằng, một giọng nói vang lên như từ một cõi hư vô:

  • Để em kể cho anh nghe câu chuyện đời em nghe!

Thu Hằng ngưng lại một phút, nét mắt đăm chiêu hướng về một vùng trời xa xôi, về một dĩ vãng đầy đau thương và nước mắt, trước khi nói tiếp:

  • Em sanh ra ở dưới quê, ở Cai Lậy. Ba má em chết khi em mới ba tuổi, sau một cuộc pháo kích trúng ngay nhà em. Chẳng hiểu sao em lại sống sót và được bà ngoại đem về nuôi. Đến khi em sáu tuổi Ngoại gởi em lên Saigon ở với Dì Út. Dì em lúc đó mới 23 tuổi, làm cô giáo tiểu học. Em được Dì Út thương em như con ruột, chăm sóc em từ miếng cơm giấc ngủ. Dì Út khi đó có người muốn thương nhưng Dì không chịu vì Dì muốn dành hết tình thương cho em. Em đi học ngay tại trường nơi Dì Út dạy. Em học chưa hết tiểu học thì Việt Cộng vô. Thấy bạn bè mình nhiều người lần lượt bỏ đi, Dì Út cũng muốn lắm. Dì nói ở lại không có tương lai và Dì muốn cuộc đời em sau này được sung sướng. Do đó, mà Dì chịu nghe Dượng Khang tính chuyện vượt biên…

Quân nhìn Thu Hằng ngồi hai cánh ôm đôi chân co lại, mái tóc óng ả, gió biển thổi bay bay sau lưng, đôi mắt đăm chiêu. Anh thấy nàng thật dễ thương khi ở cái tuổi con gái còn vương vấn nét thơ ngây, khi còn bé bỏng. Anh cảm thấy thương sót sao cho số phận cay đắng của nàng.

  • Bao năm trời Dượng Khang mài miệt theo đuổi Dì Út mới được đáp lại. Hai người thương nhau lắm. Dì Út, em và Dượng Khang trốn đi nhiều lần mà không xong, tưởng như không sao đi được. Rồi đến năm 1981, bọn em đi thoát được anh ạ nhưng số trời không thương… Khi chiếc ghe đi qua vùng biển của Thái Lan, bọn em bị cướp và tai họa xẩy đến cho bọn đàn bà con gái trên ghe. Chúng em bị bọn chúng hãm hiếp dã man lắm anh ạ. Dượng Khang và hai ba thanh niên khác thấy người yêu mình đau đớn không cầm được lòng nên chống lại và bị bọn chúng đập đầu bằng búa chết ngắc. Sau khi bọn cướp lấy được vàng bạc và thoả mãn thú tình của chúng, chúng cho ít lương thực và nước rồi chỉ đường cho ghe em đi Mã Lai. Sau khi chúng đi rồi, những người trên ghe đành liệng những người chết xuống biển. Khi Dượng Khang bị thả xuống biển thì Dì Út như điên như dại nhẩy theo và bị sóng đánh trôi đi mất tiêu luôn! Khi đó em nửa sống nửa chết đâu còn biết làm gì, cũng muốn nhẩy theo Dì Út nhưng người ta cản lại.

Nghe Thu Hằng kể mà lòng Quân đau quặn, tim anh xe lại, nước mắt anh trào ra. Đã gần hai mươi năm trôi qua, nhưng nghe lại những câu chuyện vượt biển thương tâm ngày trước sao anh vẫn không sao cầm lòng được. Bao nhiêu hình ảnh đau thương lại hiện ra trong tâm trí anh, như thể những thảm cảnh đó mới xẩy ra ngày hôm qua, hôm kia.

  • Sau ba ngày ba đêm, chiếc ghe đến được hòn đảo này. Ai nấy đều hân hoan, chỉ trừ đàn bà con gái bọn em. Chúng em đã phải trả cái giá quá đắt. Riêng em, vì đã mất đi người Dì thương yêu, không còn đâu để bám víu vào. Đau sót cho thân phận mình, em không ngừng vọng tưởng và càng ngày càng thấy buồn, không còn thiết sống nữa. Nghĩ quá hóa điên, sống như người không hồn, em đau còn lý trí nữa ? Thế rồi một đêm sáng trăng như đêm nay, quá quẩn trí, em đã treo cổ tự vẫn trên cây ngay sau barrack nơi em ở. Thế đó anh, cuộc đời em chấm dứt như vậy. Em chết xa gia đình, xa những người thân yêu, chết một cái chết oan uổng, nên hồn em cứ chới với, không thoát được khỏi cái thế gian mà em còn luyến tiếc…

Quân nhìn những giòng nước mắt chảy xuống đôi má Thu Hằng mà cảm thấy đau thắt con tim. Anh rất muốn an ủi Thu Hằng nhưng anh nhận thức rằng Thu Hằng và anh đang ở hai thế giới khác biệt, ngăn cách nhau bởi một bức tường vô hình. Anh chỉ còn có thể ngồi đó như một pho tượng nhìn người con gái anh thương sót vô cùng mà thấy mình bất lực không làm gì để giúp nàng bớt khổ được.

  • Em cần có người thương yêu thành tâm cầu nguyện để hồn em được siêu thoát nhưng chẳng có ai…

Nói đến đây Thu Hẳng khẽ quay đầu, đôi mắt long lanh nhìn anh một cách cầu khẩn.

  • Nếu anh có lòng từ bi, nếu anh thương sót cho thân phận em, em xin anh cứu giúp… Em xin hứa sẽ trả ơn anh…

Vừa nghe xong câu nói đó, Quân thấy Thu Hằng đứng dạy và trong nháy mắt biến đi mất. Anh thẫn thờ nhìn vào không gian xa xôi cố tìm lại hình bóng nàng nhưng tất cả đã xoá nhòa, tất cả đã tan biến như trong một giấc mơ. Gió biển đã chuyển, những cơn gió đêm khuya thổi ố ạt làm cho anh cảm thấy lạnh buốt. Lòng anh tê tái, anh buồn bã đứng dậy trở vê căn phòng phía sau ngôi chùa. Anh trằn trọc suốt đêm không sao tìm được giấc ngủ.

Ngày hôm sau, trước khi rời đảo trở lại Tanjung Pinang, Quân lên gặp vị sư cả của chùa để xin ngài làm riêng cho Thu Hằng một buổi lễ cầu siêu. Anh đã thành tâm quì xuống hàng giờ cầu nguyện cho linh hồn người con gái xấu số.

Trờ về Mỹ, Quân không nói cho Nhàn nghe việc anh đã ghé lại hòn đảo để thăm cái trại tị nạn năm xưa. Anh không muốn Nhàn biết câu chuyện lạ lùng đã xẩy ra với anh trên hòn đảo đêm hôm trước. Kể lại chuyện anh gặp Thu Hằng chỉ mang lại cho nàng những lo âu và suy tư vô ích. Vả lại, làm sao nàng hiểu được câu chuyện do nhân duyên này? Có lần nàng thắc mắc tại sao anh năng đi chùa hơn xưa và chăm chỉ thành kính dự những buổi lễ cầu nguyện, anh chỉ mỉm cười trả lời:

  • Mình muốn có con thì phải năng đi chùa cầu nguyện, phải không em?

Nhàn có biết đâu là anh đi chùa để cầu nguyện cho Thu Hằng. Thế rồi một  buổi sáng thứ bẩy, sau khi tỉnh dậy, hai đứa còn nằm trong giường, Nhàn mỉm cười nói với anh:

  • Hôm nay em nói cho anh nghe một tin vui nghe!
  • Tin gì vậy em?
  • Em có bầu cả hơn hai tháng nay mà chưa cho anh hay.
  • Chắc chắn không em ?
  • Em đã đi gặp bác sĩ hôm qua mà, sao không chắc?
  • Ồ thế thì thật là hạnh phúc cho hai đứa mình, phải không em ?

Quân sung sướng ôm chặt Nhàn vào lòng, nhưng trong đầu anh liên tưởng đến lời cầu xin anh đã khấn hôm nào nơi ngôi mộ Thu Hằng. Tự nhiên trong đầu anh lại hiện ra hình ảnh người con gái anh đã gặp đêm hôm đó, một đêm có trăng sao đẹp tuyệt vời. Thấy anh có vẻ hơi đăm chiêu, Nhàn hỏi :

  • Anh nghĩ gì vậy ? Sao anh không nói cho em nghe ?
  • Đâu có nghĩ gì? anh chỉ mong có đứa con gái xinh đẹp như em mà thôi.
  • Thì anh sẽ có một đứa con gái mà!
  • Sao em biết trước được ? Ra đứa con trai như anh thì sao ?
  • Không! con gái mà anh ! Em có linh tính báo trước sẽ là con gái! Mà em lại còn tính đặt tên cho con là Thu Hằng nữa ! Anh có chịu không ?

Quân giật mình khi nghe Nhàn nhắc đến cái tên mà anh không hề hé miệng nói với nàng. Tò mò anh hỏi.

  • Ở đâu mà em tìm ra cái tên Thu Hằng vậy em ?
  • Mấy đêm liền em cứ nằm mơ anh ạ. Cứ cùng một giấc mơ kéo dài mãi, một giấc mơ đẹp…
  • Giấc mơ đẹp ?
  • Vâng. Em mơ thấy một người con gái xinh đẹp, dịu hiền, có tóc dài, đôi mắt mơ mộng, trông tựa như một nàng tiên, bế đứa con của chúng mình và gọi tên nó là Thu Hằng anh ạ.

 Hướng Dương txđ
Viết ngày 8 tháng 3 năm 2006


Trở lại Đầu Trang