Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Những Chuyện Xuân Tàn (3)
Truyện Ngắn Tình Cảm xã Hội của Hướng Dương txđ



Anh đang trải qua giai đọan đen tối nhất của cuộc đời. Anh đang sống một cuộc sống vô vị, sống vì phải sống, vì anh chưa dễ dàng tìm được một lối thoát. Anh chưa biết phải làm thế nào để ra khỏi sự nhàm chán mà anh đang gánh chịu. Anh đã cố tìm cách quên những ý tưởng đen tối ám ảnh anh, những ý nghĩ buồn khôn tả quấy rầy tâm trí anh. Anh đã như một xác chết, không hồn, không suy tư, chỉ để những cảm giác bị động chi phối. Óc anh đã không còn chủ động, anh không còn kiểm soát được những giòng tư tưởng trôi trong đầu óc anh. Rượu cộng thêm với những thuốc an thần đủ loại, đã biến anh trở thành một con người khác xưa, một con người yếu đuối, đầu hàng số phận.

Sáng nào anh cũng ngủ cho đến gần trưa để rồi chưa hết tỉnh ngủ, anh đã đi tìm chai rựơu vang, lui hui khui nó ra, rót một ly đưa lên miệng nốc một hơi dài. Anh mở truyền hình, không phải để xem tin tức hay những chương trình của các đài trên đó mà là để xem những đĩa DVD Paris By Night, xem những ca si ưỡn ẹo nhẩy múa ca hát. Anh xem như vậy suốt ngày, cứ xem đi xem lại những đĩa anh đã xem, cho đỡ buồn. Mà nói cho đúng ra anh đâu có nhìn vào màn ảnh và đâu có nghe các bài ca? Anh chỉ vặn lên cho có tiếng người, tiếng người nói tiếng Việt. Anh muốn nghe tiếng mẹ đẻ, tiếng người đồng hương ví tiếng Mỹ anh đã nghe chán khi đi ra ngoài, khi phải giao thiệp với những kẻ anh không quen biết. Lâu lâu, anh liếc mắt lên màn ảnh và nếu trên đó là một ca sĩ anh yêu thích, như Lệ Thu hay Khánh Ly, thì anh ráng chú tâm nhìn và nghe vài phút. Anh theo rõi được chừng nửa bản nhạc là thôi. Đến khoảng hai ba giờ trưa, hay có khi trễ hơn một chút, anh đã thấy say say và cơn buồn ngủ lại đến. Anh vội dốc chai rượu vào ly uống nốt, rồi nằm ngay xuống chiếc ghe dài bọc da màu nâu nhạt để lại chìm vào giấc ngủ.

Chiếc ghế này, anh đã biến nó thành một chiếc giường dã chiến, trên đó có đủ gối chăn mền. Từ bao lâu rồi, nó đâu còn là nơi ngồi nghỉ cho những người khách đến thăm. Kể từ ngày anh thôi không đi làm chẳng còn người quen biết nào lảng vảng đến chơi với anh nữa. Chẳng bù hồi xa xưa, khoảng hai mươi năm trước, khi anh làm giám đốc chương trình và và có trách nhiện tuyển và mướn người cho thành phố, bao nhiêu kẻ đã tới lui tìm anh để xin giúp đỡ. Nay được việc làm rồi, họ đâu còn cần đến anh nữa? Vì thế mà anh càng chán ngán tình đời. Cái xã hội này làm gì có tình nghĩa, làm gì có lòng chung thủy hay biết ơn?

Ngay cả người vợ trẻ của anh, một ngày đẹp trời cũng đã dẫn đứa con trai yêu quí của anh ra đi biền biệt, đến một nơi nào anh cũng chẳng rõ. Hai người lấy nhau chưa được mười năm. Và nếu như không có thằng bé thì chắc đâu anh đã làm giấy tờ hôn thú? Anh  đã sống với nàng ba năm như đôi bạn sống chung, theo lối Âu Mỹ, tiền bạc chia đôi sòng phẳng, ưu phiền ai nấy lo. Bởi vì sau khi bị người vợ thứ hai đâm đơn kiện anh ra tòa xin ly dị và đòi chia của cải, anh đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng đau thương. Hai đứa con anh khi đó đã bênh mẹ chúng và hùa theo người đàn bà ấy, làm cho anh càng thấy khốn khổ về mặt tinh thần. Chúng chưa đủ khôn để nhìn thấy đâu là phải, đâu là trái và chúng chỉ căn cứ trên tình mẫu tử để phán xét. Vợ anh đã đổ hết cả tội lỗi lên đầu anh, nàng không hề nhìn vào chính mình và không chịu cho rằng nàng cũng có trách nhiệm phần nào về sự đổ vỡ tan nát. Sau vụ này, anh đâu còn tin tưởng vào đàn bà nói chung, đàn bà trẻ đẹp nói riêng. Khốn nạn cho anh là số anh đào hoa, đàn bà con gái thấy anh cứ sán vào, mê anh, thương anh. Nhưng đó chỉ là lúc đầu, lúc đằm thắm, lúc tình yêu làm cho con người mù quáng không ai thấy cái tật, cái xấu của bên kia. Khi đó, cuộc đời tươi đẹp như cảnh mùa xuân, hoa nở chim hót, nhìn nhau thấy cái gì của nhau cũng đẹp, nhìn cảnh thấy cảnh nào cũng tươi.

Người đàn bà thứ ba đến với anh nhỏ hơn anh hai chục tuổi. Lúc mới gặp nhau, mặc dù có nhiều cảm tình với nàng và bị sắc đẹp của nàng quyến rũ, anh đã dè dặt không muốn lại dấn thân vào cuộc phiêu lưu tình ái. Nhưng anh đã bị nàng tấn công tới tấp. Khi anh nói anh không muốn có vợ thì nàng bảo không sao, nàng chỉ muốn sống chung với anh để chăm sóc cho anh, hầu hạ anh. Nàng khe khẽ hát cho anh nghe bài Hãy Cứ Là Tình Nhân mà Ý Lan đã ca: “Em không thích làm vợ, không thích anh là chồng..,” rồi nói nàng thương yêu anh không điều kiện, mối tình của nàng đối với anh là mối tình đầu, một mối tình trong trắng của một người con gái chưa biết yêu bao giờ.

  • Nhưng anh hơn em tới hai mươi tuổi. Anh lớn hơn em nhiều quá!
  • Tình yêu có kể đến tuổi tác đâu anh?
  • Vẫn biết thế, nhưng mười hai chục năm nữa, anh sẽ là một ông già lụ khụ trong khi em vẫn còn phơi phới…
  • Anh cứ nghĩ lẩn thẩn. Khi anh già thêm thì em cũng già thêm. Vả lại, em có trẻ thì mới có  sức mà hầu hạ anh được chứ!
  • Em cứ nói đến việc chăm sóc cho anh, hầu hạ anh, anh đâu có muốn thế? Như vậy em sẽ phải hy sinh, em sẽ phải khổ vào thân. Anh thấy em nên yêu một người phù hợp với em hơn, xứng với em hơn…
  • Sao anh lạ thế! Em chỉ muốn yêu anh, được ở với anh. Sao anh lại xúi em yêu người khác? Em muốn tình yêu của chúng mình đơm bông kết trái thành một đứa con để hai đứa gắn bó với nhau mãi mãi, cho đến khi tóc bạc răng long…

 

Nghĩ đến đây anh thấy lộn ruột. Quả nhiên tóc anh đã bạc và răng anh đã bắt đầu lung lay. Đứa con chưa đầy ba tuổi đâu có là sợi giây chằng buộc nàng vào với anh đâu? Bây giờ anh mới thấy anh là nạn nhân của một âm mưu lường gạt về cả tình lẫn tiền. Chẳng thế mà nàng cứ bỏ đi mà chẳng đả động gì đến việc ra tòa làm giấy tờ ly dị. Ý đồ của nàng là cứ để tình trạng như hiện tại, tuy xa nhau nhưng trên giấy tờ hai người vẫn còn là vợ chồng, đợi khi anh chết thì nàng sẽ hưởng nguyên hết cả gia tài. Nhưng anh đâu có ngu đến đỗi không thấy cái ý đồ thâm độc đó? Vì thế mà sau khi thấy việc thương lượng không đi đến đâu, nàng cứ khư khư đòi sống riêng, mà cũng không chịu thỉnh thoảng đưa thằng con cưng của anh về cho anh gặp mặt, anh bèn nhờ luật sư can thiệp và anh đã dứt khoát với cả nàng lẫn đứa con nay đã thờ ơ với bố. Định mệnh đã an bài như vậy, anh tự nhủ. Số anh là cái số khốn nạn, cứ bị đàn bà làm khổ.

Mới gần sáu mươi mà anh đã phải trải qua ba đời vợ, người vợ nào lúc đầu cũng nói yêu thương anh thật nhìèu, cũng thề ở với anh trọn đời, để rồi chỉ sau chưa đầy mười năm đã chán ghét anh, bỏ anh mà ra đi, mang theo một phần tài sản mà anh đã gom góp được. Là một chuyên viên kế hoạch thượng thặng, anh đã làm nên một gia sản kha khá để mỗi lần ly dị lại bị mất đi quá phân nửa, phần thì người vợ được tòa cho hưởng, phần thì trả cho các luật sư biện hộ cho hai bên. Lần nào anh cũng thấy ức vì vừa mất của vừa bị phản bội. Anh bỗng ý thức rằng anh đã nhầm lẫn khi chọn những người đàn bà để yêu, anh đã sai lầm khi đành giá họ. Những người vợ của anh đều là những kẻ hám lợi, anh nghĩ như thế, và anh đã bị họ lừa mà không hay, Anh đủ thông minh sáng suốt để, trong việc công, luôn luôn có những quyết định đúng đắn nhất, nhưng lại không đủ khôn ngoan và lý trí để chọn đúng cho mình một người vợ trung thành.

Mọi chuyện xẩy ra từ từ anh không sao đoán trước được. Bắt đầu chỉ là sự phật lòng vì những chuyện nhỏ nhoi, những chuyện không đáng kể khi mà hai vợ chồng nói trái ý nhau và tranh luận hay giận dỗi. Những chuyện lặt vặt như thế, theo anh nghĩ, cặp vợ chồng nào cũng gặp phải. Hai người xa lạ ở chung đụng với nhau tháng này sang tháng kia, năm này sang năm kia tránh sao khỏi va chạm? Mỗi người một ý, người nào cũng muốn người kia làm theo ý mình thì tất nhiên phài có cãi cọ. Nhưng cãi đó rồi thôi, bởi vì mới những năm trước đây chẵng tình tứ thương yêu nhau là gì? Nhưng ngày qua ngày, những chuyện nhỏ xé ra to, những cãi vã nho nhỏ đưa dần đến những hiềm khích, đến sự thù oán lẫn nhau. Tai biến xẩy ra dễ dàng khi mà hai bên đã có ấn tượng xấu về nhau. Người này đổ lỗi cho người kia tạo ra nguyên nhân cho sự đổ vỡ.

  • Anh không thương tôi nữa là bởi vì anh lại có mèo chuột chứ gì?
  • Im cái mồm đi, chỉ nói lấy được thôi! Mèo với chuột ở đâu?
  • Thế tại sao anh lại dở chứng như thế?
  • Ai dở chứng trước? Tôi nói gì thì cứ làm theo thì đâu có chuyện? Đằng này cứ cãi lẩy cố…
  • Nói thế mà nghe được à? Đàn ông thì phải chiều vợ chứ! Tai sao ông không làm theo ý tôi?
  • Ngu như thế mà bảo tôi làm theo ấy à? Tôi có điên không?
  • Anh bảo tôi ngu phải không? Sao lúc lấy tôi anh không chê tôi ngu? Những người trước của anh, anh cũng bảo họ ngu nên họ bỏ anh phải không?
  • Tôi đã bảo câm cái mồm đi mà sao không chịu câm? Người đâu mà ăn nói hồ đồ! Để tôi nổi nóng lên lại có chuyện bây giờ!
  • Tôi không câm anh làm gì được tôi? Tính nết khó chịu như thế ai mà chịu cho được? Có ngày tôi cũng phải bỏ anh thôi!
  • Bỏ để đi theo thằng khác phải không? Có giỏi thì đi liền đi!
  • Anh xúi tôi đi với trai phải không? Tôi đi đây này cho anh sáng mắt ra!

 

Thế là nàng đùng đùng bỏ đi. Anh thấy nàng vào phòng ngủ quơ hai ba bộ quần áo, vài vật dụng cần thiết bỏ vào chiếc va-li nhỏ rồi đi ra ga-ra. Có tiếng cửa ga-ra mở, tiếng xe hợi nổ, rồi anh nhìn qua cửa sổ để thấy chiếc BWM đỏ chót của nàng phóng nhanh đi mất hút. Anh đành thở dài. Đầu anh quay cuồng và anh cảm thấy bất hạnh. Hình ảnh những ngày xưa xa xôi, khi anh còn sống với những người vợ kia, hiện ra trong đầu anh. Cũng những cảnh tương tự đã đưa đến sự đổ vỡ. Lúc đầu lâu lâu mới có một cuộc đụng chạm nẩy lửa, nhưng sau này những cuộc xung đột xẩ đến thường xuyên hơn. Khi thì vợ anh bỏ đi về nhà bố mẹ và ở đó một vài ngày, khi thì anh đập bàn đập ghế chán rồi lái xe đến một tiệm rượu để rồi thấy càng bức tức hơn. Có khi về nhà anh nằm lăn ra ngủ vì đã quá say, khi khác thì vẫn cò đử cơn tỉnh để tiếp tục gây gổ với vợ. Hai bên cứ đổ thêm dầu vào lửa, tất nhiên chuyện không tránh được phải xẩy ra.

Bất mãn với anh, nàng than thở với bà con họ hàng và các bạn bè thân mà hai vợ chồng anh thường liên lạc trước đó. Họ rất thông cảm với vợ chồng anh và đã đôi lần khuyên răn và tìm cách đứng ra giảng hòa cho hai người. Nhưng như nước đổ đầu vịt, nghe thì nghe, những lời khuyên răn giảng hoà không giúp xoá đi những bất đồng ý kiến giữa anh và người vợ. Tình hình căng thẳng đưa đến sự đổ vỡ hoàn toàn, nàng nghe những lời xúi dục của đồng nghiệp trong sở làm và những bạn bè xấu miệng và ác độc làm đơn ly dị anh. Khi anh ý thức rằng anh đã để sự thể đi quá trớn thì đã quá trễ. Vợ anh đã quyết tâm xa anh. Nàng nghĩ rằng dứt khoát với anh nàng chỉ có lợi, nàng chẳng thiệt thòi gì cả. Nàng thấy tiếp tục cuộc sống với anh chỉ thêm khổ sở, đau đớn vì nỗi bất hạnh đối với nàng đã lên đến tột đỉnh, không thể còn chịu đựng được nữa. Nàng còn tuổi xuân để làm lại cuộc đời, nàng không muốn chôn vùi những ngày còn lại trong đau thương dằn vặt. Nàng tự nhủ “Mình còn ít nhất hai mươi năm tươi đẹp để hưởng thụ, mình còn trẻ, tương lại mình còn tươi sáng, tội vạ gì mà chôn vùi cuộc đời trong cái địa ngục trần gian này?”.

Và nàng nghĩ đến những người đàn ông mà nàng quen biết, thông minh, đẹp trai, có học thức rộng, không thua kém gì anh, nếu không nói là hơn anh nữa, và tất nhiên trẻ hơn anh. Ngoài ra họ biết nịnh đàn bà, họ biết chiều chuộng và khen tặng đàn bà, nói theo lối Tây, họ rất ga-lăng. Nhiều lần anh đã bắt gặp những người đó đeo đuổi tán tỉnh vợ anh. Anh biết hết mà chẳng nói ra, vì nói ra chỉ thêm ưu phiền và thêm chuyện. Vả lại anh cũng bất cần. Anh nghĩ nếu ai muốn “rước” nàng đi thì anh cũng để yên cho mà rước. Trong cơn giận hờn anh đã nghĩ giữa anh và nàng cũng chẳng còn tình nghĩa gì nữa, gây chuyện làm chi cho mất công? Và lại, anh không thấy những tên đó xứng đáng để anh coi là tình địch. Họ chỉ muốn “thừa nuớc đục thả câu”, muốn lợi dụng thời cơ, vì họ biết lúc đó nàng đang yếu lòng. Anh cho rằng nếu vợ anh mà cắn câu thì nàng chỉ có mà thiệt vào thân. Anh tự nghĩ  “Ai đời ngu thế? Thả mồi bắt bóng?”

Nhưng anh đã lầm. Vợ anh không ngu như anh tưởng mà chính anh mới là đứa ngu. Không ngu sao lại để mất vợ? Mà đâu phải chỉ mất vợ không thôi? Anh cứ ký cóp gom góp tiền bạc tài sản được kha khá thì lại phải chia đôi cho người đàn bà dã tâm bỏ anh. Mà vợ anh thì chẳng mất gì. Tống khứ được anh đi, nàng sẽ hoàn toàn tự do, kể cả tự do đi tìm một người tình để được an ủi, được yêu thương, được hạnh phúc. Càng nghĩ, anh càng phát điên. Đã có lúc anh muốn trả thù, anh muốn thuê người ám hại người vợ cũ, nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại, làm thế cũng chẵng ích gì, chỉ mang thêm gánh nặng khác trong đầu. Giết nàng xong để cà đời bị ám ảnh hay sao? Dù không bi kết tội bởi luật pháp, luơng tâm anh cũng sẽ cắn rứt, ý thức tội lỗi cũng sẽ theo anh cho đến khi chết.

Nhiều hôm tâm trí anh tỉnh táo lại, anh đã nghĩ đến con người anh khi xưa và muốn tìm cách trở lại bình thường. Anh muốn lại có ý chí phấn đấu để cố gắng không chịu đầu hàng số phận. Nhưng ý tưởng đó chỉ tồn tại trong một khoẳng khắc. Sau đó anh lại chìm vào sự u mê tối tăm.

Ở tuổi anh, sức khoẻ đã bắt đầu suy sụp, nhiều bộ phận trong cơ thể đã dở chứng, đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu của sự tàn tạ. Anh đã thường phải đi thăm bác sĩ để xem tại sao tim anh không còn đập bình thường, đi bộ một quãng ngắn là anh đã mệt, đã thấy khó thở, tại sao anh lại hay bị chóng mặt, tại sao anh lại hay bị nhức đầu, tại sao anh lại hay bị đau nhói ở lồng ngực. Lần nào cũng thế, trước khi cho anh toa thuốc hay đưa anh đi chiếu điện, bác sĩ đều hỏi anh:

  • Ông có hút thuốc không?
  • Thưa bác sĩ đôi khi.

Anh đã nói dối. Ngày nào mà anh không hút it nhất là nửa gói? Thế là anh hút đã bớt đi nhiều rồi ! Xưa kia anh hút liên miên điếu này tiếp nối điếu kia, ngày nào cũng hai gói. Mà lại toàn là thứ nặng không: Pall Mall đỏ hay Camel lọai không đầu lọc. Anh lại chơi cả xì gà hay ống vố nữa.

  • Ông hút bao nhiêu điếu một ngày?
  • Một hai điếu thôi. Tôi chỉ hút sau bữa cơm.
  • Ông nên bỏ hút thuốc đi. Phổi ông đã có triệu chứng viêm. Ông nên coi chừng!
  • Dạ tôi sẽ cố gắng.
  • Thế ông có uống rượu không?

Anh ngập ngừng không biết trả lời ra sao? Chằng lẽ lại nói uống hai ba chai một ngày? Làm sao người bác sĩ lại có thể hiểu được tâm trạng của anh, hiểu được cái ly do tại sao anh lại chìm đắm vào rượu như thế?

  • Thưa bác sĩ, tất nhiên là có.

Người bác sĩ mỉm cười khi nghe câu trả lời ngộ nghĩnh của anh. Ông hỏi thêm:

  • Bao nhiêu ly một tuần?

Anh cười trong bụng. Đáng lý ra ông phải hỏi anh bao nhiêu chai một ngày. Chắc ông tưởng anh như ông ta, chỉ uống chừng nửa ly hay một ly mỗi bữa cơm chiều! Như thế thì thật lý tưởng. Các cuộc nghiên cứu khoa hoc chẳng xác nhận tác dụng tốt của rượu vang đỏ vào sức khỏe hay sao? Nhưng phải uống chừng mực kia! Thấy anh chưa trà lời người bác sĩ nhắc:

  • Kìa sao ông không trả lời?
  • Thưa bác sỉ, mỗi ngày tôi uống vài ba ly.
  • Sao ông uống nhiều thế! Rượu tai hại cho lá gan lắm. Chắc hẳn ông biết điều này!

Tất nhiên là anh biết đều đó! Uống rượu nhiều sẽ bị sơ cứng gan. Nhưng anh chẳng cần. Chết anh cũng chẳng sơ!

  • Vả lại, ông đang dùng thuốc an thần. Rượu sẽ gây ra nhiều biến chứng…

Biến chứng! Anh đã chịu bao nhiêu biến chứng trong đời? ly dị, khổ đau, cô đơn, bệnh tâm thần…

  • Thưa bác sĩ tôi sẽ bớt uống!
  • Mỗi ngày một ly thôi! Không được uống hơn! Mà phải uống xa lúc dùng thuốc đấy nhé!

Anh nghĩ: “Mẹ kiếp! Ông mà ở trong hoàn cảnh của tôi, ông cũng cưa hai ba chai mỗi ngày! Không phải là bác sĩ mà sáng suốt hơn đâu!” Rồi anh nghĩ đến thân phận anh. Ngày nào cũng như ngày nấy, cứ say rồi tỉnh, cứ tỉnh rồi say! Một lần say quá, anh đứng dậy định xuống bếp lấy tí đồ gì ăn, vừa đến cửa nhà bếp thì loạng choạng ngã chúi đầu xuống, đập ngay trán vào cái góc bàn, ngã lăn quay ra đó! Thế là anh bất tỉnh nhân sự. Sáng hôm sau tỉnh dạy thấy mình nằm bên một vũng máu, sờ lên đầu thấy một cục u to tướng, anh vội đi vào nhà tắm soi gương. Anh thấy trên trán một vết rách dài đến ba bốn phân tây sâu hoẵm và hết hồn. Anh vội dùng điên thoại kêu taxi đưa anh vào phòng cấp cứu để được bác sĩ khám và khâu vết thương lại.

Về đến nhà anh ngồi thừ người ra đó chừng mươi mười lăm phút suy nghĩ về thân phận mình. Sống một mình mà lại say sưa như thế này chắc có ngày chết ngay đơ ra đó mà chẳng ai biết. Khi người ta khám phá ra thì cũng đã năm bẩy ngày sau, xác đã rữa thối rồi không chừng. Anh bỗng đâm hoảng, thấy tuổi mình đâu đã đến lúc phải chết, đời mình đâu đã phải chấm dứt trong nỗi tuyệt vọng như thế? Một vài người bạn của anh đã bắt đầu rơi rụng lẽ tẻ và nghĩ đến họ anh thấy giật mình. Đầu óc quay cuồng, anh suy nghĩ mông lung. Mới tháng trước đây anh đã bay xuống Nam Cali tiễn đưa một người bạn thân đến nơi vĩnh cửu.

Nơi vĩnh cửu! Anh đã có lúc thèm muốn được đến nơi đó nhưng sau lại thấy nuối tiếc cuộc đời. Anh tiếc những thú vui mà anh chưa hưởng trọn vẹn. Ra đi rồi tiền bạc của cải để lại ư? Bao nhiêu năm ký cóp để lo cho ngày anh có thể hưởng thụ, có thể tiêu xài vung vít, ăn chơi xả láng. Ngày xưa anh vẫn mong chờ cái ngày N, ngày anh thôi không còn đi làm nữa, ngày anh có nhiều thời giờ rãnh rỗi, anh có thể tha hồ đi du lịch, tha hồ đi đây đi đó, đi những vùng xa xôi tận cùng của thế giới. Anh vẫn mơ ước được đi những vùng mà ngày anh còn nhỏ học môn địa dư, anh đã phải nhớ nằm lòng, những vùng đất lạ, học mà chẳng biết nó thật sự ra sao. Đó là những hòn đảo thơ mộng thuộc địa của thực dân Pháp như Tahiti, Guadeloupe, Nouvelle Calédonie, Haiti... Đó là những đất văn hóa cổ xưa như Hy Lạp, Ai Cập, La Mã… Và nhất là Phi Châu. Anh đã xem những phim xi nê như Mogambo, Les Mines du Roi Solomon và đã ao ước đến thăm lục địa đầy hoang dã này. Ôi bao nhiêu mơ ước ngày còn bé, ngày mà óc ngây thơ vẽ ra bao nhiêu hình ảnh đượm những màu sắc của thần tiên, của mộng mơ!

Nhưng nay đi đâu khi mà chẳng có ai đi cùng? Nếu còn là thanh niên, anh có thể đeo trên lưng chiếc ba lô đi một mình khắp thế giới, bạ đâu ngủ đấy. Nhưng ở cái tuổi này anh đâu còn cái vui thú của tuổi trẻ đó nữa? Anh muốn ngủ trong giường êm nệm ấm, bên một thân thể đàn bà. Làm sao anh chịu được sự cô đơn? Làm sao anh có thể sống một mình trong một căn phòng khách sạn thiếu hơi ấm của một người đẹp xinh tươi hấp dẫn? Đi đâu thì đi, chỉ vui nếu có bóng dáng của người em gái, nếu có ai đó sưởi ấm lòng mình, để mình ôm, mình hôn, để mình thấy tim mình rạo rực. Làm sao có thể hạnh phúc trong sự cô đơn? Vì thế mà nay anh chẳng còn thiết đi du lịch đâu nữa. Những cuộc du ngoạn Paris,  Luân Đôn, Amsterdam, Tokyo, Bangkok, Singapore, Rio nay đã lui sâu vào dĩ vãng. Những ngày nghỉ hè ở Hawai, Nice, Genève, Venise đâu còn gì để thương để nhớ? Tất cả chỉ còn lại chán chường. Thật là vô lý! Vào cái thời điểm mà đáng lẽ anh phải được sung sướng nhất, khi mà những điếu kiện đáng lý ra phải thuận lợi nhất cho anh được sống trong hạnh phúc thì anh lại thấy bất hạnh. Chẳng qua đó là do cái số mạt rệp của anh. Trong khi các bạn xung quanh anh tràn ngập hạnh phúc, trong khi họ vui đời và hưởng thụ tối đa thì anh lại buồn rầu chán nản.

Nghĩ đến đàn bà anh lại thấy thèm muốn. Anh thèm mơn trớn làn da mềm mại trắng muốt, thèm xoa lên mái tóc đen huyền, thèm nhìn em nở nụ cười nhẹ, lim dim đôi mắt chờ đợi. Anh thèm thấy em rùng mình khi bàn tay anh đi trên cơ thể em, khi anh lần vào những nơi nhậy cảm nhất, thăm dò những chỗ kín đáo nhất. Ôi, đàn ông nào không muốn mang hạnh phúc đến cho người bạn tình, không muốn thấy người ấy rung động? Đàn ông nào cũng cần đàn bà, cũng cần chứng tỏ cho chính mình cái khả năng trời cho là mang niềm sung sướng đến cho người tình.

Nhưng anh lại vội chấn chỉnh lại tâm trí, chặn đứng cái suy nghĩ đang đưa anh vào ngõ bí. Một mặt anh thèm muốn, mặt kia anh sợ, anh ngại ngùng. Anh không muốn lại phải trải qua cái kinh nghiệm đau thương, anh không muốn lại bị lừa, bị lợi dụng. Không phải anh sợ mất tiền không mà thôi. Anh sợ thấy mình dại, mình ngu, thấy mình ngây thơ, cứ để cho đàn bà con gái gạt gẫm mãi. Thà cứ sống như bây giờ, nếu cần một hiện diện thì đón một em đến, trong một ngày hay một đêm, tiền trao cháo múc sòng phẵng, thế rồi thôi hết. Như vậy là không còn bị rắc rối. Mặc dù giải pháp đó tạm bợ, không giải quyết được vấn đề tình cảm, nhưng làm sao được? Đó là cái tình trạng khó xử mà anh phải chịu.

---------------------------------------

Câu chuyện cho đến đây chỉ có thế. Tin mới nhất là anh đã bán căn nhà anh đang ở và chuẩn bị đi về sống hẳn ở Việt Nam, nơi anh còn một người chị. Những người em trai của anh sống bên Mỹ đều có gia đình, lâu lâu có thể đến thăm anh nhưng họ đâu có thể giúp được gì hơn? Ba mươi năm sống trên đất lạ quê người, anh chưa từng một lần nghĩ về thăm xứ xở huống hồ nghĩ về đó sinh sống. Nay bị dồn vào đường cùng, không còn lối thoát nào khác, anh đành chấp nhận giải pháp duy nhất có thể mang lại cho anh một chút hy vọng thay đổi cuộc đời.

Vui mừng khi nghe tin đó, tôi nói với anh:

  • Về bên đó không còn rượu vang nhiếu như bên đây, có uống thì uống chút chút thôi nghe!
  • Không có vang thì có đế chứ gì! Anh trả lời
  • Tôi tưởng anh đã làm một quyết định sáng suốt là về quê để bình thường hoá cuộc sống?
  • Thì cũng cố gắng thôi!
  • Như vậy đừng rượu chè be bét nữa nghe anh!
  • Để rồi xem! Biết ra sao ngày sau?

Câu nói của anh làm cho tôi nhớ đến Doris Day và bài Que Sera Sera. Ngay chính tôi cũng còn chưa biết ngày sau ra sao, huống hồ anh? Trong thâm tâm, tôi cầu mong anh đã tìm ra được con đường tự cứu lấy anh, một con đường để anh tự giải thoát, anh ra khỏi cái hoàn cãnh đầy bi ai, hãi hùng này.

Viết tại San Francisco
Ngày 27 tháng 11 năm 2006

Trở lại Đầu Trang