Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Nỗi Buồn của một Loài Hoa
Truyện của Kha lăng Đa




NỖI BUỒN CỦA MỘT LOÀI HOA
Kha Lăng Đa

nb1Mai vén rèm, nhìn qua khung cửa kính. Ngoài trời, tuyết đang rơi trắng xóa, bám vào những cành cây trụi lá, phủ lên những mái nhà và trên mặt đường phố. Qua hai ngày bị bệnh phải nghỉ việc, Mai thấy cô đơn, chán chường giữa căn nhà vắng lặng, buồn tênh. Cha Mai đi làm từ sáng sớm, bé Vũ cũng đã đi học, còn một mình Mai phải tự trị bệnh của mình bằng những liều thuốc theo toa bác sĩ và còn phải lo công việc nội trợ. Thở dài, nhìn lên di ảnh của người mẹ quá cố, Mai bỗng nghẹn ngào, rơi lệ. Phải chi mẹ Mai còn sống đến ngày nay thì người sẽ săn sóc cho Mai từng miếng ăn, giấc ngủ và sẽ ngồi bên giường vỗ về, an ủi khi Mai bị bệnh. Bàn tay của mẹ sẽ áp vào trán của Mai để thăm dò cơn sốt. Khi ấy, Mai cảm thấy mình được chuyền hơi ấm tình thương từ bàn tay mẹ hiền. Mẹ đúc cho Mai ăn từng muỗng cháo. Mẹ âu yếm, dịu dàng hỏi Mai:
-    Con có bớt bệnh không con?

Giờ đây, Mai chỉ sống trong sự tưởng tượng, ước mơ vì người mẹ hiền đã vĩnh viễn xa Mai. Niềm tin và ý sống của cuộc đời không còn dạt dào trong lòng Mai nữa. Hình như Mai đã xa lìa thực tại để sống cho những dư ảnh ngày xưa. Mai quằn quại nằm trên chiếc giường đặt cạnh khung cửa sổ. Dĩ vãng chợt hiện về giữa tâm hồn Mai với hình ảnh người mẹ kính yêu. Ánh mắt mẹ mênh mông, đượm bao tình thiết tha, trìu mến như ánh trăng dịu hiền soi trên dòng sông xưa, trong những đêm thu êm đềm, thơ mộng. Những ngày tháng ở trên đỉnh bình yên của cuộc sống, Mai được cận kề bên mẹ, trong gian nhà cũ nằm cạnh dòng sông Bình Thủy chảy lững lờ, mang theo những đám lục bình trôi vô định theo con nước đầy vơi. Cha Mai phục vụ trong một đơn vị kỹ thuật của Không Quân ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Thỉnh thoảng, ông mới về phép, thăm nhà. Mai sống với mẹ, bà ngoại và dì ba, dượng ba. Sáng nào, Mai cũng giúp dì dượng gánh rau ra chợ Bình Thủy, trước khi cắp sách đến trường. Mẹ Mai và dượng Ba là giáo viên trường tiểu học Bình Thủy, còn cha Mai lúc chưa vào quân ngũ cũng là một giáo sư của trường trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ.

Nhà của Mai quay mặt ra bờ sông. Trước nhà, cha Mai đã trồng bốn cội huỳnh mai tàng cây nay đã vượt lên cao, ngang mái nhà. Lúc còn dạy ở trường Trung học, năm nào cha Mai cũng vun bón bốn gốc mai và vặt hết lá vào ngày rằm tháng chạp cho hoa nở kịp Tết. Theo lời mẹ Mai kể thì năm ấy Mai chào dời đúng lúc những nụ hoa mai vừa hé nở, khi pháo giao thừa nổ vang khắp xóm thôn, vì vậy cha Mai đã đặt tên cho đứa con gái của mình là Mai, tên một loài hoa nở vào dịp Tết Nguyên Đán. Khi cha Mai vào quân đội thì những ngày rằm tháng Chạp, mẹ con Mai thay ông vặt hết lá của bốn cây mai. Ngày cận Tết, cha Mai về phép, nhìn những cây mai đơm đầy búp xanh hàm tiếu, ông thích thú, tươi cười. Ông bày bàn ghế dưới gốc mai già để cùng dượng ba và bằng hữu ngồi quây quần, đàm đạo, uống ruợu, đón giao thừa.

Mai càng lớn, càng giống mẹ như khuôn đúc. Có nhiều người tưởng hai mẹ con Mai là hai chị em ruột. Mai đã thêu trên chiếc áo dài màu tím hoa cà của mẹ một cành mai. Chiếc áo này, mẹ Mai thích nhứt, bà thường mặc để đi lễ vào ngày chủ nhật hoặc đi đám cưới. Mỗi lần mẹ Mai mặc chiếc áo ấy, Mai đứng ngắm nghía rồi cất tiếng khen:
-    Mẹ mặc cái áo dài này, đẹp như một nàng tiên vậy đó!
Mẹ Mai cười bẽn lẽn, nhìn Mai:
- Cái con nhỏ này ghẹo má hoài hè!

Đến năm Mai đang học lớp đệ Tam, thì biến cố 30- 4 -1975 xảy ra. Cha Mai phải đi trình diện chính quyền Cộng sản và bị đưa đi giam cầm, cưỡng bách lao động tận ngoài miền Bắc. Mẹ Mai nghỉ dạy học, bán bánh canh ở chợ Bình Thủy để tạm sống qua ngày. Mai cũng thôi học để phụ giúp mẹ trong công việc mưu sinh. Dượng ba cũng ở nhà làm nghề chăn nuôi gà vịt.

Mẹ Mai phải dành dụm chắt chiu để có tiền mua quà, đi thăm chồng mỗi năm ba, bốn lần. Lần nào mẹ đi thăm cha, Mai cũng lo âu, thắc thỏm, đêm nằm không ngủ được. Mai lo cho mẹ yếu đuối, đơn độc, mà phải lặn lội đến trại tù quá xa xôi, có biết bao sự nguy hiểm, bất trắc chực chờ. Ngày nào Mai cũng đi lễ để cầu nguyện cho mẹ, cho cha. Có một lần, Mai đi theo mẹ đến thăm cha, khi ông được chuyển trại vào Rừng Lá gần Bình Tuy. Cha Mai đã ôm chầm lấy Mai mà khóc vì sự nhớ thương chồng chất qua tám năm dài đằng đẵng. Cha Mai đã tặng cho Mai hai cái kẹp tóc do chính tay ông làm trong tù ngục, có khắc hình hoa mai. Mai trân quý kỷ vật ấy vì nó là kết tinh nỗi nhớ thương con của một người cha bị giam cầm trong chốn lao lung.

Kể từ khi cha Mai đi biền biệt không về, hoa mai không nở rộ sau phút giao thừa nữa, dù Mai đã giúp mẹ vặt hết lá trước ngày rằm tháng Chạp hàng năm. Bên cạnh dòng sông, ảo não tiếng bìm bịp kêu gọi nước lớn, nước ròng, hoa mai nở muộn màng, thưa thớt mà lại chóng tàn. Đêm giao thừa nào, mẹ con Mai cũng ngồi dưới gốc mai mà buồn nhớ miên man vì chín mùa xuân qua mà cha Mai vẫn chưa trở lại. Mẹ Mai cầm tay con, than thở:
-    Không biết đến ngày nào cha con mới được trả tự do? Con có thấy không, những cội mai già như buồn nhớ chủ, không còn nở đúng giờ phút giao thừa như ngày xưa nữa.

Kể từ ngày “biển thẳm hóa nương dâu”, những bông mai vàng, mai trắng trên vai áo, ngực áo và cổ áo của những sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã rơi rụng như hoa mai rã cánh buổi Xuân tàn. Bốn cội mai trước nhà Mai như gầy guộc, xác xơ, như mang nỗi buồn, nuối tiếc những mùa xuân ấm no, hạnh phúc đã đi vào quá khứ xa vời!

Mai đau lòng nhìn mẹ sớm hôm tần tảo để lo phụng dưỡng bà ngoại và lo thăm nuôi cha. Mẹ Mai gầy hơn trước, đôi mắt quầng thâm vì thức khuya, dậy sớm, vầng trán đã in hằn những nếp nhăn của ưu tư và nhớ thương mỏi mòn theo năm tháng. Những lần chải tóc cho mẹ, Mai chợt khám phá ra những sợi tóc bạc. Mai nhổ tóc trắng cho mẹ mà nghe lòng quặn thắt.

Dì, dượng ba yêu thương Mai như con ruột vì hai người hiếm muộn, chưa có được một mụn con. Họ dùm bọc mẹ con Mai mỗi khi gặp cảnh túng bấn, khó khăn vì việc thăm nuôi cha Mai. Rồi cha Mai được trả tự do, quay về sum họp với gia đình. Năm ấy, bốn cây mai nở đầy hoa trong tiết Xuân đầm ấm như vui mừng chào đón người xưa trở lại. Cha Mai đi làm thợ nề, thợ mộc, thợ máy nuôi sống gia đình, để cho mẹ Mai ở nhà săn sóc mẹ già, tuổi đã ngoài tám mươi. Cha Mai xin cho Mai được đi học ở một lớp bổ túc văn hóa. Hai năm sau, Mai tốt nghiệp trung học rồi lại phải ở nhà với mẹ vì không vào được trường đại học. Cùng  lúc ấy, Mai hân hoan đón nhận một đứa em trai chào đời vào một đêm mưa gió, cha mẹ Mai đặt tên cho nó là Vũ.

Bé Vũ được năm tuổi thì mẹ Mai bỗng lâm trọng bệnh trong khi cha Mai đã hoàn tất hồ sơ xin đi định cư ở Mỹ theo diện HO. Căn bệnh trầm kha kéo dài trong một năm thì mẹ Mai qua đời, trước ngày gia đình Mai được gặp phái đoàn phỏng vấn của chính phủ Mỹ hai tháng. Mai tiếc thương mẹ và khóc đến ngất xỉu. Năm ấy, nước rong ngập bờ sông Bình Thủy, tràn đến tận thềm nhà, một trong bốn cội mai già bị chết rũ; không biết nó bị úng thủy hay sầu cảnh chia ly.

Ngày rời xa quê hương để sang Mỹ,  bà ngoại, dì ba, dượng ba đã đưa cha con Mai đến tận phi trường Tân Sơn Nứt. Ai cũng bịn rịn, rơi lệ, nhứt là bà ngoại cứ ôm bé Vũ mà khóc. Mai thì một tay ôm theo di ảnh mẹ bên mình, như một báu vật thiêng liêng, một tay nắm tay bà ngoại. Khi đến cổng “cách ly”, dì dượng Ba vội vã hôn Mai và bé Vũ rồi dòng người ồ ạt, xô đẩy tới, cha con Mai phải rời xa những người thân trong nước mắt chan hòa.

Không có khả năng để tiếp tục học trên đất nước Mỹ vì Mai phải đi làm để phụ giúp cha ổn định cuộc sống mới và gởi tiền về Việt nam cho dì, dượng ba nuôi dưỡng bà ngoại trong tuổi già sức yếu. Mai cố gắng học thêm Anh ngữ ba ngày mỗi tuần vào buổi  tối… Khi đi học về, Mai phải dạy kèm cho bé Vũ đang học lớp I.

Nhờ số tiền của cha con Mai gởi về, dì, dượng ba đã tạo được một quán cà phê ngay trước gian nhà kỷ niệm, bên cạnh ba cội mai già. Dì dượng ba đỡ phần nhọc nhằn trong cuộc sống phức tạp, bà ngoại cũng được bồi dưỡng bằng nhiều loại thuốc bổ do Mai gởi về. Theo lời dì, dượng kể trong thư, mỗi lần buồn nhớ Mai và bé Vũ, ngoại lấy ảnh ra xem rồi khóc.

Đã hơn ba năm sống trên đất nước Mỹ, Mai vẫn luôn nhớ mẹ. Chiếc áo dài có thêu hình cành mai của mẹ ngày trước, được Mai mang theo làm kỷ niệm và thường mặc trong những lần đi lễ ở nhà thờ. Có lần cha Mai nhìn con gái mặc chiếc áo dài tím của vợ hiền ngày trước, ông xúc động, không cầm được nước mắt.

Bỗng thời gian gần đây, có một người đàn bà góa chồng, làm chung hãng với cha Mai thường đến nhà vào những ngày cuối tuần. Bà này có chồng bị bịnh và chết trong trại tù nên bà với hai đứa con gái được xuất cảnh theo diện HO. Gia đình bà cũng có đạo, thường đi lễ ngày chúa nhật với cha con Mai. Mai đoán biết tình cảm của cha Mai và nguời đàn bà ấy ngày càng đến gần hơn. Hình như họ muốn có một sự chắp nối tơ duyên. Điều này khiến Mai ưu tư, cảm thấy mình và bé Vũ sắp bị mất mát tình thương của cha. Mai càng buồn nhớ mẹ và nghe cô đơn hơn lúc nào hết. Nguồn an ủi bây giờ chỉ có bé Vũ mà thôi. Cha Mai ít ngồi u buồn, nhìn lên di ảnh của người vợ quá cố như lúc mới sang Mỹ nữa. Ông hay vắng nhà mỗi lần đi lễ về, có lẽ ông hẹn hò gặp gỡ người đàn bà nb2ấy ở một nơi nào khác. Mai mang một nỗi sầu câm lặng, không biết thổ lộ cùng ai. Mai nghĩ không có một người đàn bà nào có thể thay thế được người mẹ kính yêu mà hình ảnh đã in sâu vào tim, óc của Mai, không bao giờ phai nhạt. Mấy lần Mai muốn ngăn cản cha, nhưng Mai không đủ can đảm vì Mai rất kính trọng và thương cha phải sống trong cảnh cô đơn.

Đang lúc tâm hồn nặng trĩu nỗi lo âu, Mai chỉ biết quỳ trước bàn thờ Chúa để cầu xin cho gia đình mình không có chuyện bất trắc xẩy ra. Mai sợ một ngày nào đó, cha Mai sẽ san sẻ tình thương cho người khác. Chị em Mai đã bị mất tình thương của mẹ, nay lại không được cha yêu thương trọn vẹn, thì cuộc đời thật là bất hạnh. Mai nhìn lên ảnh mẹ, van vái qua nước mắt:
-    Lạy mẹ, xin mẹ phù hộ cho cha con vượt qua được sự cám dỗ để sống với chúng con. Chúng con không muốn mất cha.

Chợt nhớ Âm lịch đã đến ngày cuối năm, Mai hình dung những cội mai cũ chắc đang đơm những nụ hoa sắp nở. Bà ngoại, dì, dượng ba chắc đang trông ngóng tin xa và trong đêm giao thừa ngồi nấu bánh tét, bánh chưng, chắc ngoại sẽ khóc khi nhắc đến Mai. Nhìn đồng hồ đã gần ba giờ, Mai gượng ngồi dậy, sửa soạn đón bé Vũ đi học về. Tuy còn yếu, nhưng nghĩ đến đứa em thơ, Mai nghe như nỗi buồn phiền, bệnh hoạn vơi đi rất nhiều. Gặp bé Vũ ở trạm xe “bus”, Mai cười héo hắt, nhìn em và dẫn nó ngồi vội vào xe vì trời chiều lạnh giá. Bé Vũ nói chuyện huyên thuyên như con chim hót buổi sáng tinh sương khiến Mai cũng phải vui lây theo nó. Về đến nhà, vừa bước vào cửa, Mai đã thấy cha đang ngồi ở phòng khách. Bé Vũ vội chạy đến khoanh tay:
-    Thưa cha, con đi học về.
Cha Mai ôm bé Vũ vào lòng, hôn lên má nó:
-    Con của cha giỏi lắm!
Mai lặng lẽ đi vào phòng riêng, bé Vũ chạy theo nũng nịu:
-    Chị cho em ăn cái gì, em đói bụng quá!
-    Để chị đi hâm nóng thức ăn lại rồi mình ăn cơm. Em hãy cất cặp rồi chị sẽ tắm cho em.

Chợt chuông điện thoại reo, Mai ngồi xuống đầu giường cầm ống liên hợp lên nghe. Cùng lúc ấy, ở phòng khách, cha Mai cũng đang tiếp chuyện với người gọi đến qua điện thoại. Mai nghe giọng nói của người đàn bà ấy bên kia đầu dây:
-    Xin anh hãy trả lời cho em biết gấp, chuyện của chúng mình anh định liệu ra sao?
Cha Mai trầm tĩnh đáp:
-    Anh đã suy nghĩ mấy đêm nay rồi, chúng mình chỉ là bạn với nhau thôi chớ không thể nào đi xa hơn được. Anh có bổn phận nuôi nấng, dạy dỗ con anh  và sẽ ở vậy trọn đời vì không có người đàn bà nào thay thế được vợ anh. Xin em thông cảm cho anh.

Mai vui mừng, xúc động muốn rơi nước mắt, vị đặt ống nghe của điện thoại vào vị trí cũ rồi bước qua nhà bếp. Cha Mai xuống, phụ Mai dọn cơm. Ông cho biết vừa nhận được thư nhà. Dì, dượng Ba mong cha con Mai về thăm quê hương. Bà ngoại đã già yếu, đôi mắt mờ vì có “cườm”. Dì, dượng Ba còn gởi qua mấy hộp bông mai giả cho cha con Mai gắn lên một cành cây để nhớ những cội mai cũ bên cạnh gian nhà kỷ niệm.

Cha Mai trao lá thư, Mai cầm, đọc ngấu nghiến những dòng chữ của người thân yêu viết mà mong được chắp cánh như chim để bay về thăm tổ ấm năm xưa cho thỏa lòng thương nhớ. Sau bữa cơm, cha con Mai ngồi kết bông mai giả vào một cành cây mà Mai vừa tìm được sau nhà. Bé Vũ ngồi cạnh Mai, ngây thơ nói:
-    Bông này giống bông mai nở trước nhà mình ở Việt Nam há chị!
Cha Mai hỏi bé Vũ:
-    Con có thích bông mai không?
Bé Vũ cầm một chùm hoa lên ngắm rồi trả lời:
-    Con thích lắm chớ, mỗi lần thấy hoa mai là con nhớ mẹ vì mẹ rất thích bông mai.

Nghe lời nói của đứa con thơ dại, sớm bị mồ côi mẹ, cha Mai nghe cõi lòng se thắt. Nhìn lên ảnh người vợ hiền đã gánh chịu bao nỗ truân chuyên để nuôi chồng trong trại tù, phụng dưỡng mẹ già, nuôi nấng con cái trong cơn “bỉ cực”, cho đến lúc “thới lai” thì nàng đã vùi thân dưới lòng đất lạnh quê nhà., ông xúc động, lệ trào tuôn ra khóe mắt. Ông run run nói với bé Vũ:
-    Phải chi mẹ con còn sống đến ngày nay thì gia đình mình vui biết mấy. Con hãy ráng học giỏi , mùa hè này ba sẽ cho chị Mai dẫn con về Việt nam thăm bà ngoại, thăm dì ba, dượng ba và thăm mộ mẹ con.

Mai bỗng thấy tâm hồn mình như đang nở rộ một rừng hoa mai khi tưởng tượng đến ngày quay gót về nơi chôn nhau, cắt rún để thăm lại những người thân yêu. Mai sẽ dẫn bà ngoại đi mổ mắt, lấy cườm ra, để ngoại nhìn rõ mặt hai đứa cháu thương yêu sau bốn năm dài xa cách và ngắm được ba cội mai già hớn hở đơm đầy hoa vàng mỗi độ xuân sang... Mai sẽ mặc chiếc áo dài kỷ niệm, dẫn bé Vũ đi thăm mồ mẹ cho linh hồn người hiền mẫu được ấm lại sau những năm tháng cô đơn, lạnh lùng nơi thế giới bên kia.

KHA LĂNG ĐA

Trở lại Đầu Trang