Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Một Cuộc Thất Trận Gây Tắm Máu

Bản dịch bài Defeat’s Killing Fields của Peter W. Rodman và William Shawcross
(đăng trên New York Times ngày 7 tháng 6 năm 2007)


Một vài người chống đối cuộc chiến ở Iraq đang giỡn mặt với ý tưởng bại trận của Hoa Kỳ. Một số chỉ tiên đoán điều đó trong khi những kẻ khác đang cổ võ cho những biện pháp làm cho cuộc bại trận này có thể xẩy ra. Về mặt tinh thần, việc chấp nhận những ý tưởng đó như là một yếu tố tranh luận bắt nguồn từ hậu quả của Cuộc Chiến tại Việt
Nam .  Người ta nói rằng thất bại của Hoa Kỳ trong cuộc mạo hiểm tại Đông Dương cuối cùng cũng không đến nỗi quá thảm hại như trước kia đã dự đoán. Hoa Kỳ sau đó đã hoàn phục và đã không phải trả giá lâu dài.

Chúng tôi xin được phép nghĩ khác. Nhiều năm trước đây, hai đứa tôi đã chống đối nhau kịch liệt khi bàn đến khía cạnh khôn ngoan và đạo đức của chính sách của Hoa Kỳ tại Đông Dương, nhất là tại Căm Bốt. Một trong hai đứa, Shawcross, đã viết một cuốn sách tựa “Sideshow” để cay đắng chỉ trích chính sách của chính quyền Nixon.  Còn đứa kia, Rodman, một người cộng sự viên lâu dài của Henry Kissinger, đã viết một bài phản bác trên tờ American Spectator để bênh vực chính sách của Hoa Kỳ. Cả mấy chục năm sau đó, chúng tôi vẫn không thay đổi quan điểm. Nhưng ngay từ thời đó chúng tôi đã đồng ý với nhau rằng hậu quả gây ra tại Đông Dương quả nhiên là tai hại vô cùng cả về mặt con người lẫn mặt điạ lý-chính trị đối với Hoa Kỳ và vùng đó. Ngày nay, chúng tôi cũng đồng ý mạnh mẽ với nhau rằng  hậu quả của cuộc bại trận tạ sẽ nghiêm trọng và ảnh hưởng lâu dài hơn nữa.

Cuộc chiến thắng của Cộng Sản tại Đông Dương năm 1975 đã dẫn đến những sự kiện khủng khiếp đưa vùng này xuống vực thẳm. Bọn Khmer Đỏ chiến thắng đã giết từ một cho đến hai triệu đồng bào Căm Bốt trong một cuộc tàn sát điên rồ có tính chất diệt chủng và ý thức hệ. Tại Việt Nam và Lào những trại tù và “cải tạo” tàn bạo được dựng lên để thực hiện chính sách đàn áp. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, phần lớn bằng thuyền bè, và hàng trăm ngàn người đã chết trong nỗ lực này. Cuộc chiến bại này đã có một ảnh hưởng đáng kể lâu bền về mặt chiến lược. Leonid Breznev khoe khoang rằng “cán cân lực lượng” trên thế giới đã thay đổi có lợi cho Xã Hội Chủ Nghiã và những nước sô viết đã tiến hành một cuộc tấn công đệ tam thế giới về mặt điạ lý-chính trị trong cả chục năm trời.  Một trong những hậu quả là cuộc xâm chiếm của Liên Xô.

Nhiều nhà lãnh đạo Âu Châu đã xuống tinh thần và đã công khai than khóc trước cuộc xâm lược của Liên Xô và trước sự bó tay của Hoa Kỳ. Quả thật những hậu quả của cuộc bại trận đó nhẹ bớt đi nhờ nhiều yếu tố khác nhau. Sư việc Nixon và Kissinger thông đồng được với Trung Quốc góp phần vào việc Trung Quốc đóng vai trò cân bằng hóa lực lượng và làm giảm bớt ảnh hưởng của Mạc Tư Khoa và Hà Nội tại Đông Nam Á. (Mặc dù Trung Quốc, một đồng minh của bọn Khmer Đỏ, không chú trọng đến việc chọn lựa bạn cùng phe bằng Hoa Kỳ) Và mặc dù có cuộc bại trận vào năm 1975, sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Đông Dương vẫn có những tác dụng tích cực. Lý Quang Diệu, thủ tướng Tân Gia Ba thời đó, đã tuyên bố rằng những hậu quả đã có thể tai hại hơn thế nếu không có những nỗ lực của Hoa Kỳ tại Đông Dương. “Nêú Hoa Kỳ đã không can thiệp vào Đông Dương” ông biện luận “những nước không Công Sản đã không quyết tâm chống lại cuộc cách mạng vô sản vào những năm 1960 và cả vùng Dông Nam Á đã rơi vào tay Cộng sản.” Thuyết Domino như thế đã tỏ ra là đúng. Ngày nay tại , đừng mơ tưởng rằng một cuộc bại trận sẽ chỉ phải trả bằng một cái giá vừa phải.

George Orwell đã viết rằng cách chấm dứt nhanh nhất một cuộc chiến là thua trận. Nhưng bất cứ ai nghĩ rằng cuộc đầu hàng ở Iraq sẽ mang đến một sự kết thúc nhân từ đều là kẻ bị lừa. Cuộc bại trận sẽ đưa đến một nỗi vui sướng cho tất cả những lực lượng Hồi Giáo quá khích và sẽ đưa đến một cuộc biến động to lớn hơn ở tất cả vùng Trung Đông. Những tổn thất về mặt nhân sự và chiến lược sẽ thật là kinh khủng. Có lẽ chính vì vậy mà trong những cuộc tranh luận hiện nay không ai muốn đả động đến những hậu quả đó. Cũng giống như tại Đông Đương cách đây hơn ba mươi năm, hàng triệu người dân Iraq coi việc Hoa kỳ giúp đánh bại những kẻ thù tàn bạo của họ như là niềm hy vọng duy nhất cho xứ sở họ. Hàng trăm ngàn người dân Iraq đã quyết tâm làm việc với chúng ta và với chính quyền do dân bầu của họ để giúp xứ sở họ trở lại với cộng đồng thế giới như là một quốc gia ưa chuộng hòa bình và ôn hòa, một nước hàng xóm với các nước bên cạnh chứ không phải là một mối đe dọa. Nếu chúng ta chấp nhận thua trận, những người dân Iraq đó sẽ bị nguy khốn. Hàng ngàn, hàng ngàn người sẽ bỏ nước ra đi giống như người Việt vào những năm sau 1975.

Chiến lược mới của các lực lượng liên minh và Iraq, dưới sự chỉ huy hữu hiệu của Tướng David Petraeus cho thấy triển vọng lật ngược thế cờ nếu chúng ta tỏ cho thấy rằng chúng ta duy trì sức mạnh đang có. Osama bin Laden đã nói vài tháng sau vụ 11 tháng 9 rằng “khi dân thấy một con ngựa khỏe và một con ngựa yếu, tự nhiên họ sẽ thích con ngựa khỏe.” Trong đầu óc của hắn, Hoa Kỳ là con ngựa yếu. Nếu Hoa Kỳ đầu hàng ở Iraq những tên quá khích trong thế giới Hồi Giáo sẽ càng thêm bạo dạn và nhiều chính phủ ôn hòa thân hữu của chúng ta sẽ bị lật đổ, điều đó sẽ gia tăng nhanh chóng sự cấp tiến hóa các mối xung đột tại Trung Đông.

Hành động của chúng ta ở Iraq là một thử thách quan trọng cho sự tín nhiệm của chúng ta, nhất là đối với mối đe dọa đang lù lù từ nước cách mạng . Các bạn Ả Rập và Do Thái của chúng ta đang nhìn trong khung cảnh bao quát đó. Họ đang lo lắng trước những tranh luận trong nước, những tranh luận đã từng gây tai hại cho cuộc Chiến Việt Nam , và họ đang chờ đợi sự cam đoan của chúng ta. Khi những viên chức trong chính quyền biện minh rằng sự cam đoan của Hoa Kỳ tại Đông Dương đang lâm nguy, những tay chỉ trích đã chế nhạo chuyện đó. Nhưng khi Saddam Hussein xâm chiếm Kuwait vào năm 1990, ông ta và những đồng sự đã nhắc lại Việt Nam để nói rằng không cần coi trọng những lời cảnh cáo của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không thể mạnh mẽ chống – hay bất cứ một nước nào khác - nếu chúng ta chấp nhận bại trận tại Iraq.

Peter W, Rodman, một thứ trưởng quốc phòng đặc trách vụ an ninh thế giới từ 2001 cho tới tháng 3 vừa qua, là một nhà nghiên cứu tại Học Viện Brookings . William Shawcross là tác giả cuốn “Allies: Why the West had to Remove Saddam.”  

Hướng Dương txđ dịch

 

Trở lại Đầu Trang

Đọc Những Bài Đáng Chú Ý Khác:

Dành Lại Sự Bình An Sau Chiến Tranh (bài dịch)
Air Pollution fast becoming an issue in Vietnam

Hong Kong Investors Looking to Vietnam
Reminders of 1997 Haunts Vietnam (Bangkok Times)

Vietnamese Turn to Spirit Mediums in Search for War Dead (AFP)
Vietnam Generational Split (by Luong Sĩ Long)