Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Vẫn Rực Sáng Với Miền Nam
Phan Nhật Nam



 

Không được bỏ quên dĩ vãng,
Vì chúng ta sẽ đóng lại cả đôi mắt

Solzhenitsyn

Dẫn Nhập.
Trước khi trình bầy ý kiến cá nhân về những nhân sự sẽ đề cập, người viết cần nói rõ về yếu tố xét thấy có phần cần thiết: Bản thân cá nhân hoàn toàn không có tương quan, liên hệ trên bất cứ lãnh vực nào đối với đối tượng đang nói đến, ngoài hiểu biết căn cứ trên hành vi thực hiện, tiếng lời nói ra, chữ, nghĩa viết nên phát xuất từ những con người ấy. Ðấy là  những hành vi, tiếng lời sẵn tí­nh toán, có mục đí­ch lăng mạ, xỉ nhục, dầy xéo lên Nỗi Ðau của một cộng đồng đông đảo - Người Dân và  Lính của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 (cũng của cả nước trong hiện tại) - Một quốc gia đã thất trê­n ba-mươi năm trước, hiện nay tiếp tục bị xuyên tạc, lấm nhục bởi phe đoạt thắng: Người và  Ðảng Cộng Sản đang cầm quyền ở Việt Nam được phối hợp, thêm sức, cổ vũ bởi những nhân tố như con người kia mà nay đã thay đổi quan điểm chí­nh trị bởi đồng mục tiêu, chung quyền lợi. Cay đắng và  mĩa mai thay, đấy lại là  người xuất thân từ quốc gia bị thất trậ­n ấy, hằng mang căn cước, danh xưng Công Dân Việt Nam Cộng Hòa, ra khỏi nước từ sân bay Tân Sơn Nhất trong một tình huống bi thảm của ngày 29 tháng 4, 1975. Và  hơn thế nữa, đấy lại là  một trong những cá nhân thủ đắc vị thế lãnh đạo cao nhất, hành xử­ nhiệm vụ chỉ huy cuộc chiến đấu của Miền Nam - Và  hôm nay đương sự đang cam tâm chối từ dĩ vãng của chí­nh mình với quyết tâm phủ nhậ­n, cố công lăng nhục. 
 
Nguyễn Cao Kỳ,
Tiếp tục những điều kỳ cục, quái gở ở mức độ cao nhất. 

Con người nầy hẳn đã gây cho nhiều người miền Nam (chắc rằng cũng của lẫn miền Bắc – những con người chuộng sự trung chỉ­nh như nhà  vậ­n động dân chủ Nguyễn Thanh Giang ở Hà  Nội), một trạng huống não nề, coi khinh; riêng với bản thân tình thế kia cũng nặng nề đến độ muốn vất bỏ công việc đang dự trù thực hiện - Cũng do thân xác quá yếu mệt sau lần giải phẩu lớn, nhưng cụ thể vẫn là  mối phiền bực vô hạn khi phải chứng kiến một điều tệ hại quá đổi xấu xa nơi con người - Con người phải có lương tri, lương năng. Con người phải có liêm sĩ. Người phải biết dừng lại tại những giới hạn - Giới hạn phân biệt giữa một Nhân Vị siêu việt và  một Sinh Vậ­t thuần bản năng. Vị tướng lãnh quân đội, người lãnh đạo chí­nh trị lại cần thể hiện những phẩm chất bản lãnh cao thượng riêng biệt để xứng đáng với vị thế danh xưng mình đã từng thủ đắc, cho dẫu cuối cùng phải gánh phầ­n thất bại. Nhưng hôm nay, nhân sự tên gọi Nguyễn Cao Kỳ thêm một lần (của rất nhiều lần) vượt khỏi giới hạn cuối cùng nầy ở hạn tuổi quá bảy-mươi. Có thể đêm nay, có thể ngày mai, một tương lai rất gần, cá nhân nầy sẽ phải tan biến, nhưng những tiếng lời xấu xa vô nghì của, về ông ta sẽ mãi lưu lại..
Tại sao lại có thể như thế với một người đã 75 tuổi tên gọi Nguyễn Cao Kỳ? Chúng tôi tự hỏi như thế nhiều lần với kinh ngạc vô vàn trước sự kiện trân tráo cực độ nhẫn tâm. Bài viết sau đây có ý nghĩa như một cố gắng cuối để giải thí­ch về một điều không thể xẩy ra, nhưng.. đã xẩy ra như một lẻ thường tình của Tí­nh Bất Thiện.
Ðể giới hạn mục tiêu bà i viết, chúng tôi chỉ căn cứ trên những trả lời của ông Kỳ với phóng viên Báo Thanh Niên, Xuân Ất Dậ­u 2005 (Theo bản tin NET ngày 25 tháng 1, 2005 chuyển tiếp; kèm hình ảnh buổi ký hợp đồng xây dựng sân golf  Tuần Châu (12/2004); NCK chứng kiến, đứng giữa những giới chức đương sự); chúng tôi cũng trí­ch dẫn những điều ông ta cải chí­nh với báo nầy qua lá thư gởi Tổng Biên Tậ­p Báo Thanh Niên đề ngày 24 tháng Giêng, năm 2005; Bản sao đồng gởi tới Vũ Mão, Ủy ban thường vụ quốc hội, Trưởng ban đối ngoại; Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch UBTU Mặt Trậ­n Tổ Quốc; các tổ chức trong nước; hội đoà n, báo chí­ hải ngoại. Và bài viết củaVann Phan, Nguyễn Cao Kỳ nói xấu tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa, Người Việt, Chủ Nhậ­t, 23 Tháng 1, 2005 Little Saigon, Cali, USA. 

Ðể có một đúc kết chính xác về những vụ việc quanh nhân sự NCK, chúng tôi tóm lược những hoạt động, tuyên bố của ông ta có liên quan đến người, việc ở hải ngoại, với đối tượng cụ thể là  Người Lính VNCH.
Sự kiện thứ nhất, lời tuyên bố trong cuộc gặp gỡ với David DeVoss, Ðặc Phái Viên báo thương mại, Asian Inc’s America (Bản tin NET ngày 28 tháng 10, 2002): "Cuộc chiến Việt Nam là  một chiến tranh bẩn thỉu". Nhưng sau khi nhận thấy cộng đồng Quân-Dân Miền Nam nơi hải ngoại phản ứng đồng loạt chống đối, nên cá nhân kia thực hiện tiếp một cuộc phỏng vấn với ký giả Bảo Vũ (Ðài Phát Thanh Úc Châu) để đí­nh chiùnh rằng: Y ta không xử­ dụng nhóm chữ bất nghĩa, "A little dirty war.." đối với chiến tranh, người, việc của Miền Nam trong giai đoạn 1955-1975, qua lời thanh minh: "Chỉ lập lại ý kiến của giới truyền thông, sách báo của giới phản chiến Mỹ." Từ sự kiện nầy, chúng tôi đã phải lên tiếng lần Thứ Nhất với bài viết "Khi Người Lí­nh Già  tự tay xé Chứng Chỉ Tại Ngũ", Cali, 11/2002
Tiếp đến lần thứ hai, cá nhân kia về Sài Gòn (dịp Tết Giáp Thân, 2003-2004) tung ra những nhậ­n định, tuyên bố (qua họp báo, thâu hình ở Saigòn – Bản thân và  nhiều bằng hữu, chiến hữu có dịp theo dõi, ghi nhận từ một băng vidéo gốc tại tư gia của một vị tướng lãnh niên trưởng khả kính) có mục đích xưng tụng người và chế độ đã gây đại họa cho toàn dân tộc Việt (cũng bao gồm cá nhân, gia đình của chính đương sự) kể từ ngày đảng cộng sản thiết lậ­p, 3 tháng 2, 1930 - Năm y ta ra đời. Rồi tiếp theo cũng có lời thanh minh với những ký giả Cao Sơn, Võ Phong (San José); Lý Kiến Trúc (Văn Hóa, Nam Cali). Chúng tôi buộc phải cầm bút lần Thứ Hai để khẳng định: "Gã lính già  kia thực sự chỉ là  một phó lái buôn - Tên lái buôn biễn l�n đi rao bán máu và  thây xác của chính đồng bào, đồng đội mình" - Qua bài viết, "Ky est Ky" Cali, Tháng 2/2004.
Nhóm chữ "Người Lính Già " vốn có xuất xứ từ lời tuyên xưng cao thượng của Danh Tướng McArthur, "Người Lính Già  không bao giờ chết.. Họ chỉ nhạt nhòa đi".
Nguyễn Cao Kỳ trong thập niên 60-70 luôn nại ra để đề cao "trị giá quân nhân tướng lãnh" của bản thân – Nhưng sự thật hôm nay đã hai lần phản bác, bầy ra một con người đã bốc lầy lên mùi thây ma khi đang còn sống.

Bây giờ lại là  lần Thứ Ba; và chúng tôi sẽ không đề cập đến những ý kiến của ông ta giải thích về lý do, hậu quả của việc giao dịch, buôn bán, cộng tác với chính quyền Hà  Nội mà  hiện tại đương sự đang đóng một vai trò trung gian, dắt mối giới thiệu. Chúng tôi hạn chế bài viết trong chủ đề: "Nguyễn Cao Kỳ chê bai tướng lãnh và quân đội VNCH" với người, việc thuộc lãnh vực quân sự theo như lời mở đầu, căn cứ trên bài viết của Văn Phan, và  hai văn bản liên hệ (một của Báo Thanh Niên, một của y đương sự). 

Buổi Nguyễn Cao Kỳ "nói thẳng" được mở đầu với khẳng định: "Tôi (NCK) đã nói từ năm 1973 về việc miền Bắc sẽ chiến thắng!" Nguyễn Cao Kỳ "tiên tri" tương lai miền Nam: "Ngay sau Hiệp Ðịnh Paris, tờ Newsweek đã phỏng vấn tôi cả một trang cuối.. Họ (Báo Newsweek) hỏi: "Sau khi người Mỹ rút đi mọi chuyện sẽ như thế nào?" Tôi trả lời: "Cộng sản sẽ tấn công" Hỏi: "Bao lâu nữa?" Tôi đáp: "Sau hai năm". Khi đó mọi chuyện sẽ như thế nào?" Tôi trả lời: "Miền Nam sẽ tan rã".
Từ tiền đề "nói đúng, nói chí­nh xác" tương lai Miền Nam với những câu xác định vừa kể, NCK và  phóng viên báo Thanh Niên qua điểm gút của câu chuyện (về những Tướng Lãnh, Người Lính Miền Nam). Qua đoạn hỏi, đáp nầy, chúng ta nhận ra là  đã có một Nguyễn Cao Kỳ rất "giỏi gian"- khôn ngoan sắc xảo hơn cả Bunker, hơn hẳn Nguyễn Văn Thiệu – vì đã đánh giá ra ông Thiệu: "Bởi ông Thiệu nói rằng, vì tôi ghen ghét nên tôi nói bậy. Nhưng cuối cùng thực tế đã diễn ra đúng như thế. (NCK, Thanh Niên ibid)
Ðể tăng cường độ chính xác đối với ý kiến của NCK, chúng tôi bổ túc những yếu tố sau mà  chắc rằng viên thiếu tướng chuyên nghiệp lái máy bay vậ­n tải nầy không biết (vì nếu như đã biết tường tận, thì chắc đương sự đã chẳng nói lên lời huênh hoang gọi là , "tiên tri miền Nam sẽ sụp đỗ" – Một "tiên tri" mà bất cứ ai ở Ủy Ban Thi Hành Hiệp Ðịnh Paris; giới nghiên cứu tình hình quân sự, chính trị; các nhà  bình luận, truyền thông đồng biết ra như một điều tất nhiên). Những điều bổ túc ấy là :
"Trong trận chiến Mùa Hè 1972, trước khi hiệp định ký kết (từ một hội nghị khai mạc do chính NCK giữ chức trưởng phái đoà n (1968) với "nhiệm vụ"-– đã được NCK ưu tiên hoàn tất bởi quan niệm, "nhiệm vụ" ấy trọng đại hơn cả hơn trách nhiệm chí­nh trị của một trưởng phái đoà n quốc gia, định đoạt vậ­n mệnh Miền Nam (cũng của cả Việt Nam như hệ quả thực tế thảm hại sau 1975 đến nay) – Ấy là , đưa vợ qua Paris mua sắm, du hý) một pháo đội đại bác (6 khẩu 105 ly) có thể tác xạ 10 tràng (60 viên đạn) để dọn bãi, giữ an toàn cho bộ binh đổ xuống mục tiêu (nếu đụng trọ­n số đạn xử­ dụng sẽ không hạn chế).
Cấp số đạn (được quyền xử­ dụng kia) sau hiệp định chết người gọi là  "Tái Lậ­p Hòa Bình tại VN" chỉ còn "4 (Bốn) viên cho một ngày hành quân". Và  đối với tình hình nhân sự, trang bị, kh� t� i của không quân, hẳn NCK cũng không biết nốt; tương tự như vào những giờ phút nguy biến của quốc gia, ông ta đã có thái độ vô trách nhiệm qua một hoạt cảnhtrong biến cố gọi là  "Phản Ðảo Chí­nh 19 tháng 2, 1965": "Tôi (Ðại Tá Phạm Văn Liễu, Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát-pnn) phóng xe lên thẳng phi trường Biên Hòa để tìm cách đối phó với tình thế.. Ông Kỳ đang ngồi đánh mạt-chược.. Vẫn không rời bàn mạt-chược, Tướng Kỳ đáp: "Ông làm cách nào đánh lại tụi đảo chá­nh đi. Tôi sẽ cho thằng Phạm Phú Quốc lên vùng, đặt dưới quyền điều khiển của ông." (Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, Văn Hóa, Houston, TX 2004; Tập 2, trg 228).
Ðiều (có thể) không biết của NCK về không quân là : Sau Hiệp Ðịnh Paris 1973, ngay Sư Ðoàn 5 Không Quân (đóng tại Tân Sơn Nhất) của Phan Phụng Tiên (bạn thiết của Kỳ) chỉ còn đúng 3 (Ba) chiếc C130 xử­ dụng được - Không chỉ thế, những phi cơ hoạt động nầy phải dùng cơ phậ­n của những chiếc bị đình động. Trong những ngày di tản kể từ 15 tháng 3, 1975 (lần di tản Pleiku), Bộ Tư Lệnh Không Quân phải dùng đến C123 đã bị đình chỉ hoạt động từ lâu. Tình trạng của các phi cơ chiến đấu cũng không khả quan hơn, Skyraider từ đời đệ nhị thế chiến (1945) sau 1973, 1974 lại phải đem ra bay tăng cường cho F5, A37 (bởi đã quá giờ bay hành quân). 

chắc chắn Nguyễn Cao Kỳ cũng không hiểu biết bao nhiêu về chí­nh trị như: Ðiều I của Phần Dẫn Nhậ­p Hiệp Ðịnh Paris (lậ­p lại từ Hiệp Ðịnh Genève 1954) xác định một Nguyên Tắc nhất quán, căn bản: VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC BẤT KHẢ PHÂN
(Có nghĩa: HÀ NỘI KHÔNG HỀ XÂM LƯỢC MIỀN NAM.
Có nghĩa: KHÔNG CÓ QUÂN ÐỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA XÂM LĂNG NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HÒA, MỘT QUỐC GIA DƯỚI VĨ TUYẾN 17)

VÀ VĨ TUYẾN NẦY CHỈ LÀ ÐƯỜNG RANH QUÂN SỰ TẠM THỜI. VÀ CUỘC CHIẾN MIỀN NAM SẼ DO "HAI BÊN MIỀN NAM VIỆT NAM" GIẢI QUYẾT TRONG TINH THẦN HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC". 

Những màn kịch tệ hại luôn tiếp diễn

Nói như trên hẳn đã đủ. Chúng tôi mời quý bạn đọc "cố gắng, kiên nhẫn, bình thản" xem tiếp những màn kịch bẩy ra đủ chi tiết về y phục, cá tí­nh, tiếng, lời đối thoại.. do nhiều tác giả ghi chép, viết nên. Thế nên, chúng tôi không hề võ đoán về tí­nh chất ngây thơ tầm phào (trong lãnh vực chí­nh trị) của Kỳ, bởi chính đương sự đã thủ diễn những màn hài hước (chí­nh trị) và  được (chí­nh xác là  "bị") đánh giá qua nhân cách, bản lãnh như sau:
Giới thiệu nhân vật: "Kỳ, một cái mặt trơn láng với hàm ria tỉa khéo, mặc bộ đồ bay mầu tí­m sẫm, mang khẩu súng báng nạm ngọc, là  một tay liều mạng cùng cách ăn mặc mầu mè.. Vốn là  kẻ sinh trưởng ở miền Bắc (Việt Nam), được người Pháp dạy lái máy bay, nên sau nầy bay các phi vụ bí­ mậ­t dò thám đất Bắc. Y thường nói năng ẩu tả, rỗng tuếch"(1). Sợ rằng nói thế người đọc không hình dung rõ, tác giả diễn tả kỹ hơn: "Kỳ diễn trò với một cái áo chẻn màu trắng bó sát, quần sọc túm ống, giầy da kiểu cọ, vớ đỏ chói - cung cách, y phục trông giống như một tay thổi kèn xắc-xô ở một hộp đêm loại hạng nhì"(2) (1&2) Stanley Karnow Vietnam A History The Viking Press - New York 1983, p381 & p425.) 
Với y trang, khả năng như trên, đêm 8 tháng 12, 1964, Kỳ dự tiếp tân tại tư thất Tướng Westmoreland, nơi đây y chạm mặt Maxwell Taylor, và  nghe những lời cảnh cáo thẳng thừng của viên đại sứ: "Nầy tôi báo cho mà  biết, cách gây hỗn loạn kinh niên của các anh chỉ làm cho những người bạn (của Nam Việt Nam) dẫu quyết tâm mấy cũng bó tay; ngoài ra còn khiến Quốc Hội (Mỹ) ngã lòng khó mà  cho thêm viện trợ". Kỳ và  các đồng sự (mà  hôm nay y lên tiếng chê bai) đi ra với vẻ tẽn tò của mấy đứa nhỏ bị quở phạt (Karnow ibid p382.) Màn kịch đến đây chưa xong. Do Kỳ và  mấy ông tướng thân thiết tiếp tục diễn tuồng bát nháo, viên đại sứ kêu tất cả đến nhà  trình diện (đêm 21 tháng 12) và  răn bảo như thói ông ta còn làm huấn luyện viên Trường Võ Bị West Point: "Ðêm ăn ở nhà  Tướng Westmoreland, tôi đã bảo thẳng cho mấy anh hay là  người Mỹ chúng tôi đã quá chán trò hề đão chá­nh; nhưng rõ rà ng là  tôi đã phí  lời.. Bây giờ các anh lại bầy bầy hầy ra, nên tôi chẳng hơi sức đâu mà  bao che cho được nữa nếu các anh còn tiếp tục là m những mững như vậ­y". Viên đại sứ ngừng lại một chút cho "đám (tướng) trẻ" thấm hiểu, xong sẵng giọng: "Các anh biết tiếng Mỹ không? Anh nào đại diện cho cả toán nầy? Các anh có người phát ngôn không? (The Pentagon Papers by (The New York Times, Bantam Books, INC-New York, 1971, p379.)
Kỳ tài giỏi đối đáp: "Tôi không là  người phát ngôn cho cả toán, nhưng tôi nói tiếng Anh được.. Chúng tôi hiểu lời nói (tiếng Anh) của ông rất rõ. Chúng tôi "hiểu rõ trách nhiệm" của bản thân, cũng như "sự hy sinh của dân tộc" chúng tôi hằng hơn hai-mươi năm qua.. Chúng tôi chỉ muốn trở lại đơn vị chiến đấu. Chúng tôi không có tham vọng chí­nh trị.. Chúng tôi hành động với quan niệm, việc làm ấy "mang lại tốt đẹp cho đất nước". Khi nhiệm vụ hoàn tất, chúng tôi sẵn sàng trở lại đơn vị (chiến đấu) của mình! (The Pentagon Papers ibid p380.)

Cuối cùng những tấn tuồng hỗn loạn kéo dài suốt những năm 1964, 65.. Kỳ được đề cử­ nắm giữ chức vụ hành chánh, quân sự cao nhất của Miền Nam vào năm 35 tuổi: "Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương". Nhưng với chức vụ quan trọng, quyền thế nầy, "Chủ Tịch Nguyễn Cao Kỳ" cũng không được người Mỹ phê điểm khá hơn: "Tên nhải ranh gọi là  Tướng Kỳ kia, hôm nay (19 tháng 6, 1965) đã lớn tiếng yêu cầu chúng ta "xâm lăng Miền Bắc và giải phóng Bắc Việt Nam" - Thằng nhỏ điên khùng trời đánh nầy không hề lái xe ra khỏi Sai Gòn được một dặm nếu như không có đoàn công-voa súng đạn t�­n răng hộ tống, nay lại đòi giải phóng Miền Bắc!! (Neil Sheehan A Bright Shinning Lie Random House - New York, 1988, p512.) 

Chúng ta có thể lấy thêm nhận xét của một giới chức đã từng giữ chức vụ quan trọng trong quá trình đẩy mạnh, thực hiện chiến tranh, tăng cường viện trợ cho Miền Nam (những người mà  Kỳ đánh giá "không tà i giỏi, khôn ngoan" bằng y ta). Ðiển hình như Phó Ðại Sứ Alex Johnson đã có lời: "Hắn ta (Kỳ) như một hỏa tiễn không hướng dẫn. Chỉ là  một bợm rượu, chuyên bài bạc, và vây vo tán tỉnh quanh quẫn mấy con mụ đàn bà .. Khi được báo chí­ hỏi ai là  người mà  hắn tán tụng nhất; y đã tuông lời huênh hoang: "Tôi chịu Hitler hết ý.. Ở Việt Nam nầy phải cần có đến bốn hay năm Hitler mới được (Robert McNamara In Retrospect Random House - New York, 1995, p186) 

Có thể tạm đóng lại những màn kịch nơi thời điểm của những năm 1960-70 nầy để xem tiếp "người" đã làm, nói những gì trong dĩ vãng mà  hôm nay cứ nhất định đòi xóa sạch, bỏ quên không thương tiếc.Trở lại thời điểm tháng 4, 1975. Sai Gòn như một bãi lử­a sau khi Quân Ðoàn II rút bỏ Tây Nguyên (15 tháng 3); Quân Ðoàn I lui binh khỏi Huế (24 tháng 3); Ðà  Nẵng 29/3; Nha Trang 30/3 - Thời điểm mà  Kỳ đã "tiên tri chí­nh xác" sẽ phải tới sau hai năm ký kết Hiệp định Paris - Nhưng Kỳ đã không hành xử­ theo "tiên tri" của mình mà  lại tìm tới người Mỹ (chỉ là  Người Mỹ thuộc cấp của Ðại Sứ Bunker, kẻ bị Kỳ chê (không thức thời) với báo Thanh Niên ba mươi năm sau). Người Mỹ nầy có vẻ thông cảm (vẫn là  người Mỹ bị đánh giá không mấy "thông minh, khôn, giỏi" bằng ta chứ không ai khác) trong bữa rượu có tính cách vĩnh biệt chiều 27 tháng 4, Eric von Marbord (văn phòng CIA Sàigòn) Kỳ lắng nghe tiếng pháo (cộng sản) dội xuống quanh thành phố và còi báo động thổi dồn. Kỳ ngỏ lời: "Chúng tôi có thể (tiếp tục) chiến đấu ở vùng đồng bằng sông Cử­u Long, và  có thể cầm cự trong và i tháng. Chí­nh phủ Hoa Kỳ thuậ­n hỗ trợ cho chúng tôi không? Không phải với nhân mạng, nhưng bằng vũ khí? 
- Ðau thương thêm mà  thôi. Không được đâu. Marbord xác định: "I'm sorry, the answer is NO. (Tiếng Mỹ trong nguyên bản Pháp ngữ) Olivier Todd; Cruel Avril Robert Lafont, Paris, 1978 p349).

Bị người Mỹ bỏ rơi (điều nầy Kỳ hẳn không "tiên tri" thấu), giờ đến lượt những tướng lãnh miền Nam, những người được Kỳ (tháng 4, 1975) tin tưởng, tiết lộ cho biết kế hoạch: "Chỉ cần chiếm giữ dinh tổng thống, trụ sở và nhân sự bộ tổng tham mưu; đài phát thanh và truyền hình là nắm trọn miền Nam." Tất cả những viên tướng chỉ huy các đơn vị đều hoàn toàn đồng ý; nhưng do kinh nghiệm của bản thân họ (đối với Kỳ) ở thời điểm 1965-1970 như đã kể ra trên, nên những ông tướng đồng có lời thoái thác. Ví dụ như Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng thì có ý kiến: "Ông cứ làm tới đi. Chỉ cho biết ngày giờ, tôi sẽ mở sẵn cử­a bộ tổng tham mưu." Viên tư lệnh không quân thì tâm sự: "Xin ông hãy ra tay. Nếu như muốn bắt tôi, tôi sẽ không một phản ứng chống cự nào. Ông dư biết Thiệu cũng đang chuẩn bị chạy. Sau lần cuối cùng gặp mặt, phí­a Mỹ đã phái một tay đưa tin đến bảo tôi đừng động đậ­y gì cả.." Gần gũi với Kỳ hơn hết là viên (cựu) tư lệnh thủy quân lục chiến (Tướng Lê Nguyên Khang-pnn), cũng có ý kiến (tương tự): "Tôi không thể cho anh quân, nhưng nếu anh hành động thì lí­nh tôi sẽ không phản ứng chống đối." Như thế là thế nào? Trong giờ phút sôi lử­a sống chết của cả Miền Nam, Kỳ còn đặt hy vọng (hy vọng gì?) vào tay những tướng lãnh mả  (sau ba-mươi năm) Kỳ đã đánh giá: "Vì tôi biết rất rõ rằng về cái gọi là  những người chỉ huy, những ông tướng lãnh miền Nam ấy. Từ ông Thiệu cho đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi toàn những vị ăn chơi phè phỡn.. Vann Phan, Người Việt ibid & NCK, Thanh Niên ibid"

Không khuyến dụ được các ông tướng, đợi đến ngày 23 tháng 4, Kỳ sốt ruột vì hai ông Thiệu và  Khiêm đang chuẩn bị ra đi với những tấn hành lý chứa đồ quý giá mà  không ai mời đến trao quyền, làm lễ nhậ­m chức. Kỳ đáp trực thăng xuống mái Dinh Ðộc Lậ­p, vào gặp Tổng Thống Trần Văn Hương. Kỳ nói liền: 
- Cộng sản có thể vào Sàigòn trong vòng vài ngày, hoặc vài giờ
- Phải điều đình thôi, Mérillon (Ðại Sứ Pháp) và  nhiều người thúc dục tôi trao quyền cho Minh (Dương). Quân đội không thể chống cự lại; có phải họ hết đạn rồi phải không? Tổng Thống Trần Văn Hương mệt mỏi. 
Kỳ vẫn hăm hở: Với súng, đạn hiện có chúng ta có thể cầm cự được một hay hai năm. Hãy đặt tôi làm tham mưu trưởng liên quân.
Kỳ nghĩ rằng quân đội cần một người chỉ huy nghị lực (là chính ta).
Nhưng Tổng Thống Hương từ chối khéo: "Một người như ông đã là  thủ tướng, và  là  phó tổng thống, không thể nào chỉ giữ chức tham mưu trưởng thấp xoàng như vậy. Ðợi vài bữa nữa, tôi bổ nhiệm ông vào địa vị cố vấn quân sự đặc biệt cho chính phủ (Olivier Todd ibid p326).

Tổng Thống Hương không trao quyền chức thì "người" tìm về phía nhân dân. Kỳ cùng Linh Mục Thanh tậ­p họp 10,000 (mười ngàn) người ở Xóm Mới, khu Công Giáo bắc Sàigòn bùng lên những tuyên bố hỗn loạn, náo động: "Thành lập một chí­nh quyền mới, sửa soạn cuộc kháng chiến; hoặc phải thực hiện ngưng bắn (nghiêm chỉnh (!) để điều đình." Trong cơn say máu, Kỳ tung lên lời nguyền để đời: "Qua Mỹ không có mắm tôm, cà pháo. Hãy ở lại chiến đấu. Biến Sàigòn thành một Stalingrade!" Ðám đông hoan hô như sấm rền (Todd ibid p335-337).

Chúng ta trở lại trọng tâm của bài viết, vậy "Những Tướng Lãnh, Người Lí­nh Miền Nam" nào là  đối tượng chịu nhậ­n sự lăng nhục (của Kỳ) hôm nay? Bởi, qua một khoảng thời gian dài từ 1965 đến 1975 như trên vừa nhắc lại, hơn ai hết Kỳ đã luôn cần tới họ – Tướng Lãnh và  Người Lính QLVNCH – Cột trụ chí­nh xây dựng nên công danh, bảo đảm sự nghiệp" cho đương sự, vốn xuất thân là  thành phần tiểu thị dân, loại thanh thiếu niên ma mảnh phá phách nơi những khu phố nhỏ Hà Nội trong những năm đầu thậ­p niên 50. Nguyễn Cao Kỳ luôn cầu và phải cần tới họ – Những Quân Nhân Cao Thượng Trung Chỉ­nh trong giờ phút t�­ sinh, sống còn của chí­nh bản thân đương sự. Nguyễn Cao Kỳ không thể đến Trường Chỉ Huy Tham Mưu Long Bình (Biên Hòa) ngày cuối tháng 4, 1975 nếu không được Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Nguyên Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3 Nhẩy Dù Chỉ Huy Trưởng tiên khởi Binh Chủng Biệt Ðộng Quân, vị tướng lãnh thanh liêm hàng đầu của quân đội bảo chứng hành vi. Nguyễn Cao Kỳ không thể rời Bộ Tổng Tham Mưu để bay ra mẫu hạm USS Midway trong buổi sáng 29 tháng 4, 1975 nếu không có bảo vệ cuối cùng bởi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng - Vị Tướng Quân bậ­c thầy của những tướng lãnh mà ngay cả đối phương cộng sản cũng không hề có lời xúc phạm. 

Và cuối cùng, trực thăng của Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Nguyên Tư Lệnh Không Quân QLVNCH, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Phó Tổng Thống VNCH sẽ không bao giờ rời khỏi bãi đáp tại tư gia trong Tân Sơn Nhất được nếu không có Người Lí­nh kiên cường - Viên phi công Hỏa Long AC119 của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa đơn độc đương cự: Trung Úy Nguyễn Văn Thành, Thiếu Sinh Quân "Thành mọi"- Anh bay lên, vào vùng, bắn phá những vị trí­ pháo cộng sản đang bố trí­ quanh Tân Sơn Nhất, vùng Bà  Ðiểm, Hốc Môn. Hết đạn, Thành đáp xuống, tự tay xếp đạn, và tiếp bay lên. Một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt thân máy bay. Con tàu bốc cháy, rơi xuống với chiếc dù của Thành kẹt nơi cánh. Ðúng 6 giờ 46 phút sáng 29 tháng 4, năm 1975. Tôi chứng kiến. Tôi thấy người phi công chết cháy trong vũng lửa trên bầu trời Tân Sơn Nhất - Giờ Nguyễn Cao Kỳ bay ra hạm đội Mỹ.

Câu chuyện thăm thẳm dài bi thiết của Dân và  Lính Miền Nam (cũng của cả Việt Nam hôm nay, ba mươi năm sau ngảy 30 tháng 4, 1975) chấm dứt nơi đây, bởi cơn bi phẫn do bị xúc phạm phải kìm giữ lại quá đỗi nặng nề. Người viết lập lại kết luậ­n đã một lần trình bày tại hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam tại Ðại Học Tokyo, ngày 14 tháng 1, 2002:

"Thượng Ðế ban cho con người sự sống, và  kế hoạch hóa tình cảnh, thời điểm từ giả cuộc đời trần thế - Nhưng con người trong chuỗi sinh tồn kia đã hiện thực điều bi thiết vĩ đại của mình - Người quyết định lần chết cho chí­nh bản thân. Người trao gởi lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh hiển. Người Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng lử­a chiến tranh mà  toàn dân tộc đang gánh chịu một cách khắc kỷ - Xem như một sự cùng đành. Không chỉ là  những người lí­nh nơi trận địa, mà  là  hằng loạt các tướng lãnh giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hay sĩ quan cấp tá cao cấp - Chết tại trậ­n tiền, bởi đạn bắn thẳng như các Tướng Lãnh Ðỗ Cao Trí­, Nguyễn Viết Thanh, Trương Quang Ân, Nguyễn Huy Ánh, Lưu Kim Cương, Trương Hữu Ðức, Nguyễn Trọng Bảo, Ngưyễn Văn Hiếu.. Những Chỉ Huy Trưởng kiệt liệt các đơn vị tác chiến của tất cả quân, binh chủng: Nguyễn Ðình Bảo, Lưu Trọng Kiệt, Lê Huấn, Lê Hằng Minh, Phạm Phú Quốc, Trần Thế Vinh, Ngụy Văn Thà.. Danh sách có thể kể ra dài như vô tậ­n suốt cuộc chiến giữ nước tí­nh từ 1960, khi Hà Nội bắt đầu cuộc xâm lăng Miền Nam qua chiêu bài ngụy danh Mặt Trậ­n Giải Phóng Miền Nam. Và  chỉ riêng với kết thúc 30 tháng 4, 1975 các Danh Vị đã nên Hiển Thần Trung Liệt: Tướng Quân Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ; Các Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông; Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long.. Người không chỉ chết một mình, mà  với toà n gia đình cùng một lần quyết tử­: Chị Phạm Thị Th� ng, vợ Nghĩa Quân Lê văn Hùng chết với chồng và  đà n con nơi chiếc đồn cô quạnh ở Giồng Ðình, Gò Công, Vùng IV; Những người lí­nh Thủy Quân Lục Chiến Lữ Ðoàn 147 của Nguyễn Xuân Phúc, Ðỗ Hữu Tùng đồng tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Ðà Nẵng cuối tháng 3, 1975. Sáng 30 tháng Tư, 1975, Thiếu Tá Ðặng Sĩ Vĩnh (Khóa 1 Nam Ðịnh, chung khóa sĩ quan với Kỳ), bào huynh của gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm ba thế hệ: ông, cha, cháu; Trung đội Nhảy Dù với Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng nỗ một lần lựu đạn nơi Bùng Binh Ngã Sáu, Chợ Lớn.. Ở cầu Xa Lộ Biên Hòa, nơi Ngã Tư Bảy Hiền, trước cổng Trại Phi Long, Bộ Tổng Tham Mưu.. Lần toàn Miền Nam hấp hối! Bao nhiêu Người Trung Liệt đã nằm xuống để nên vinh hiển cho Danh Hiệu: Việt Nam Cộng Hòa? Bao nhiêu người đã chết trên một cõi Phương Nam được hai mươi-mốt năm không dưới ách đọa đầy xã hội chủ nghĩa? Và  khổ đau của Miền Bắc kia nào ai đã một lần tổng kết? 
Tiếp sau 1975, hơn hai triệu người không phân biệt Bắc-Nam; Kinh, Thượng, Hoa-Việt, toàn thể sắc dân H’Mông, Miên, Lào.. trên Bán Ðảo Ðông Dương đồng phá thân, chấp nhậ­n sự chết để sáng tỏ một điều tưởng chỉ biểu hiện trong triết học, trình bày qua văn chương- Con Người Chỉ Sống Xứng Ðáng Với Tự Do. Bao nhiêu người đã trầm mình trên sóng biển Ðông, nơi rừng già  dọc biên giới Thái-Miên; trong lũng sâu, núi cao miền thượng du Hoa-Việt.. Ánh chớp thanh quang của Anh Linh bao con người cao thượng đã chết vì, cho Tự Do nầy hẳn đã rung mờ nhạt, nguyệt, hiện thực lần Núi Sông cùng khóc với Con Người. Và Người cùng một lần sống mãi với Quê Hương. Với Lịch Sử. 
Vậy - Không một ai có quyền xúc phạm. Bất kỳ ai. Với bất cứ nhân danh gì." 

 

Ngày Quân Dân Miền Nam 
Dựng Cờ Vàng lên Kỳ Ðài Cố Ðô Huế
Ba mươi - bảy năm trước,
(24 tháng 2, 1968 - 2005)

 

 

Trở lại Đầu Trang