![]() |
Trang Web Hướng Dương Txđ |
![]() |
Đi Thăm Cộng Đồng Người Việt Ở Budapest. |
Vừa đến khách sạn, chúng tôi đã dọ hỏi xem khu làm ăn của người Việt Nam ở vùng Budapest này nằm ở nơi nào và muốn đến đó phải đi ra làm sao. Vừa nói đến chữ Việt Nam là người tiếp đón khách, một anh chàng thanh niên da đen từ Kenya đến lập nghiệp ở Hung Gia Lợi, vui vẻ lấy một tấm bản đồ thành phố và khoanh tròn vào một khu vực nói:
Chúng tôi hỏi muốn đến nới đó thì đi xe buýt đường số mấy. Anh chàng bảo để anh tìm hiểu rồi sẽ cho biết. Chúng tôi đang ngồi uống nước ở quầy rượu. Chúng tôi thấy anh ta gọi điện thoại cho một người mà anh nói biết rõ khu có người Việt Nam này. Sau khi gọi xong cú điện thoại, anh nói:
Chúng tôi hỏi:
Anh ta trả lởi:
Chúng tôi không nghĩ đi taxi thuận tiện thứ nhất vì tài xế taxi ở Budapest chỉ biết nói tiếng Anh rất ít, không biết liệu họ có hiểu nơi chúng tôi muốn đến là nơi nào hay không. Thứ hai chúng tôi bốn người mà đi taxi là phải đi hai xe, rắc rối thêm nữa. Do đó, anh trưởng nhóm (tên Toàn) quyết định ngày hôm sau chúng tôi sẽ đi hỏi thăm và dọ đường đi. Hôm sau 9 giờ sáng chúng tôi đi một chuyến du lịch (tour) bằng xe hơi chạy dọc theo con sông Danube (tiếng Hung là Duna) đi về phía bắc khoảng 200 cây số thăm thú phong cảnh xứ người và sang cả biên giới phía bên kia thuộc xứ Slovakia, một phần của nước Tiệp Khắc xưa kia, có tên Tchecoslovaquia. Chuyến đi chơi này chấm dứt lúc 4 giờ rưỡi chiêu. Khi vể đến Budapest, anh Toàn hỏi người tài xế kiêm dẫn đường (tour guide) - anh chàng này nói tiếng Anh lưu loát - đường xe buýt xe điện để tới khu người Việt đó. Anh ta thả chúng tôi ở trung tâm thành phố và nói đi xe bus số 7 rồi chuyển sang xe điện số 28 thì sẽ đến khu trung tâm buôn bán của người Á châu (Asian market). Hỏi anh ta có phải người Việt làm ăn ở đó không, thì anh ta nói anh ta không biết. Không như ở thủ đô Prague của nước Tiệp, nơi chúng tôi đã đi thăm qua, chúng tôi không thấy người Việt đi ngoài đường hay trên đường xe buýt ở Budapest, mà đi bộ xung quanh những con phố cũng không thấy có một cửa tiệm nào có tên Việt Nam hay thấy có người Việt buôn bán để có thể hỏi thăm. Do đó chúng tôi cũng hơi nản chí lúc ban đầu nghĩ rằng có thể tập thể người Việt ở đây sinh sống ở đâu xa không gần Budapest. Sau này mới hiểu rằng số người Việt ở đây ít ỏi và họ không làm công nhân các hãng xưởng như ở Prague - chúng tôi không biết ở những nơi khác của nước Hung Gia Lợi có công nhân Việt làm trong các hãng xưởng hay không nhưng sau này cũng không nghe kể đến. Tuy gặp khó khăn nhưng anh trưởng nhóm của chúng tôi không hề nản chí, anh rất gỉỏi nhìn bản đồ tìm đường vì anh đã quen đi chơi tự túc và cứ đến ngã tư là anh nhìn tên đường để xác định vị trí. Trên tấm bản đồ thành phố chúng tôi lấy ở phi trường, tuy nhỏ nhưng có đấy đủ chi tiết, có chỉ những nơi có hầm metro (xe điện ngầm) chỉ các đường xe buýt và xe điện rỏ ràng. Tuy nhiên một tay mơ như tôi có đọc cũng không thể tìm được xem nơi đâu là nơi đâu vì các tên đường và tên những công trường, những khu vực đều bằng tiếng Hung, rất khó đọc, khó nhận diện, và dễ lẫn lộn. Đi trên đường phố rộng thênh thang của thủ đô Budapest với những toà nhà to lớn năm bẩy từng hai bên đường, đại lộ nào tôi đi qua cũng như đại lộ nào. Thế nhưng anh trưởng nhóm của chúng tôi chỉ thoáng nhìn một cái là anh biết liền. Lần đi chơi kỳ trước tại Prague anh đã làm cho tôi khâm phục tài tìm đường của anh rồi. Có lần tôi đã nói đùa với anh, “Nếu trước kia – 25 năm trước – anh đi Kămpuchia với tôi thì tôi đã không bị lạc trong rừng!” Như thế anh cứ vừa nhìn tên phố, vừa nhìn bản đồ tìm đường xe điện số 28 và anh nói chúng tôi khỏi cần lấy xe buýt số 7 nếu chịu khó đi bộ một chút. Chúng tôi đồng ý đi bộ để còn có thể xem phố phường vì Budapest là một thành phố cổ rất đẹp - được gọi là Paris của miền Đông. Chừng 40 phút sau đến một công trường nhỏ, có vườn hoa, có nhiều dân tụ tập đi lại, có cửa hầm metro. Anh bảo chúng tôi là phải xuống dưới đó mua vé vì vé bán trên xe đắt hơn. Một vé xe khoảng 1 Mỹ kim rưỡi chỉ đi được một chuyến xe trên mặt đường, rời xe chuyễn sang xe khác là phải dùng một vé khác, tuy không tốn kém bao nhiêu nhưng không hiểu sao tự nhiên mình vẫn thấy hao và muốn tiết kiệm bằng cách… đi bộ, nếu đoạn đường không quá dài. Như thế chúng tôi xuống mua vé, mua một tập 10 vé thì rẻ hơn, nhưng cũng chẳng đi được bao nhiêu lần. Do đó anh trường nhóm quyết định mua vé ngày – giá đắt khoảng năm sáu lần vé chuyến - tức là đi từ 6 gìờ chiều hôm ấy cho đến 6 giờ chiều hôm sau. Chúng tôi nhìn bà bán vé - rất may bà này tuy lớn tuổi nhưng lại nói được tiếng Anh kha khá – xé bốn vé từ trong một cuốn vé còn khá dầy – không có bao nhiêu người mua loại vé này? - rồi cầm cây bút viết ngày giờ lên trên mỗi tấm vé để ghi thời gian hiệu lực của nó. Anh trưởng nhóm cười và nói bằng tiếng Việt với chúng tôi, “Đến năm 2009 rồi mà cũng vẫn phải viết hiệu lực lên vé bằng bút mực như thể cách đấy 30 chục năm về trước!"
Chừng năm phút sau, chúng tôi đến một con đường cắt ngang và ngay nơi đây có rất nhiều xe điện chạy vể hướng khu chợ Á Châu, trong đó có xe số 28. Trong khi đứng chờ xe 28, chúng tôi thấy ngày nơi đây có một tiệm ăn Tầu. Trong bụng tôi đã nghĩ là chắc khu chợ Á châu cũng ở quanh quanh đâu đây thôi, nhưng không phải. Chuyến xe điện chạy cả nửa tiếng đồng hồ qua hết các khu phố xầm uất rồi đến những khu như thể ở ngoại ô nghèo nàn, không còn thấy có những toà nhà to lớn nữa, không còn những cửa hàng buôn bán. Tôi hơi sốt ruột hỏi một bà hành khách xem khu buôn bán của người Việt Nam ở đâu thì bà ta nói được tiếng Anh nên hỏi lại tôi:
Tôi đói bụng bèn trả lời:
Bà ấy nói một tên đường mà tôi nghe cũng chẳng hiểu. Anh trưởng nhóm bèn quả quyết:
Chiếc xe càng ngày càng đi vào một khu vực vắng vẻ quanh hiu. Và trời đã về chiều, lúc đó chắc cũng đã gần 7 giờ tối tuy trời vẫn còn sáng. Xe đi thêm vài chặng nữa thì chúng tôi xuống, định bụng quay về, thì thấy bên kia đường những bảng hiệu tiếng Tầu và bên dưới có tiếng Việt, đặc biệt là có bảng của một tiệm cắt tóc Việt. Tôi mừng trong bụng vì biết chắc chúng tôi đã tìm ra đúng khu vực làm ăn của người Việt nam ở Budapest rồi. Nhưng lúc đó đã chiều tối, không còn chỗ nào mở cửa. Nhìn hai bên chỉ là những toà nhà
Anh trưởng nhóm chúng tôi bắt chuyện:
Tay chỉ vào phía trong khu vực có tường cao và bốn năm cái cổng tương tự như hai cổng chúng tôi vừa thấy, anh ta nói:
Sau này hỏi thăm mới biết rất nhiều người sang Budapest sinh sống là từ những vùng Nghệ An Hà Tĩnh Gio Linh. Có lẽ người này kéo người kia lần lần sang theo. Tôi nghĩ cuộc sống ở vùng miền Bắc Trung Phần này khốn khổ, khó sống nên người dân theo nhau bỏ nhà bỏ cửa sang đây lập nghiệp. Vì họ nghèo không có nhiều vốn nên sang đất Hung kiếm sống cũng khó khăn, đời sống của họ chật vật hơn người Việt sinh sống bên Tiệp Khắc.
Anh ta cười gượng:
Tôi nói chêm vào:
Anh ta lại cười. Tôi nhìn thằng bé ngồi sau bố, nó im thin thít, chỉ nhìn những người lạ mà không nói câu gì. Tôi hỏi nó dăm ba câu như cháu tên gì? cháu lên mấy? nhưng nó cũng chẳng trả lời. Tôi hỏi người bố:
Tôi không thấy anh ta trả lời. Tôi hỏi:
Thấy chúng tôi hỏi những câu khó trả lời anh ta chào chúng tôi để ra về:
Rồi anh ta đạp xe chở đứa con đi. Chúng thấy trời đã xâm xẩm tối nên quyết định quay trở về. Có chuyến xe chạy ngược lại, chúng bèn lêo lên. Về đến bến, chỗ chúng tôi đã lên xe lúc ban nãy, thì là tận cùng đường. Chúng tôi xuống xe và quyết định vào tiệm ăn Tầu, thấy lúc trước khi lên xe, ăn bữa cơm tối. Ăn xong, chúng tôi lững thững đi thêm một quãng, leo lên chuyến xe điện số 4 để về khách sạn. Budapest có một hệ thông chuyên chở công cộng rất hữu hiệu, khách đi không phải chờ lâu, cứ vài ba phút là có chuyến. Xe búyt cũng rất nhiều, chạy liên tục, nhất là ở vùng trung tâm thành phố. Xe chạy trong đường hầm, hay chạy trên mặt đường đều sạch sẽ tiện nghi, dân đi xe tuy không sang trọng nhưng ăn bận cũng khá tươm tất. Sáng hôm sau lúc 9 giờ chúng tôi quyết trở lại nơi ấy. Chúng tôi xuất phát từ khách sạn ở gần công trường Boraros ter ngay chân cầu Polóti hid lấy xe điện số 4 chạy trên con đường Ferenc korút để tới công trường Blaha Lujza ter là nơi chúng tôi đã tới chiều hôm trước để lấy xe điện số 28. Lúc này thì anh Toàn bảo đi chuyến xe điện 28 hay chuyến 62 cũng đến đường Kobányai là con đường ngoại ô nơi có Chợ Bốn Con Hổ. Ngoài ra nếu đi xe búyt thì chúng tôi cũng có thể lấy chuyến số 9 hoặc số 109. Do đó chúng tôi lấy chuyến xe điện 62 và đến nơi lúc gần 10:00 sáng. Chúng tôi xuống xe ở cổng số 4. Có tất cả 5 cồng đi vào một khu vực lộ thiên mênh mông rộng chắc cả nửa cây số vuông.
Nói chung thì dân Việt sống ở Budapest không có mức làm ăn như ở Prague, là nơi chúng tôi thấy có những cửa tiệm hẳn hoi, nhiều Như thế chúng tôi đi quanh quẩn xem xét, đi dọc theo những con đường đi giữa những sạp hàng hóa, có chỗ lộ thiên, những sạp nhỏ hơn có khi chỉ lèo tèo vài món hàng bán, có lẽ vì chủ sạp nghèo ít vốn, mới bắt đầu bước vào con đường tranh đấu với cuộc sống gay go nơi đây. Năm nay kinh tế Hung Gia Lợi gặp khó khăn, hàng hóa ế ẩm vì phần lớn là bán cho dân chúng địa phương. Chúng tôi thấy một số ít khách hàng người Hung đi sắm đồ. Một cặp trai gái đi mua hàng đang trả giá, thấy chủ sạp người Việt nói tiếng Hung với họ, tôi thấy quả khả năng thích ứng của người Việt giỏi. Hỏi thăm một người buôn bán nơi đây thì được biết họ đã học tiếng Hung trước ở Việt Nam trước khi sang đây.
Chúng tôi được kể lại nhiều thiếu nữ mới ở Việt Nam sang không có vốn để buôn bán phải làm công cho các quán cơm, có công việc chỉ là đi giao cơm cho những người đặt mua. Và họ kiếm được chừng 100-150 Mỹ kim một tháng. Mặc dù đời sống ở Hung Gia Lợi tuy rẻ rúng hơn ở bên Mỹ hay bên tây Âu nhưng cũng đắt đỏ hơn là ở Việt Nam, chúng tôi thấy cuộc sống lúc đầu của họ thật cơ cực. Đi một lúc thì chúng tôi cũng tìm ra được một quán bán cơm đĩa, bán hủ tíu, bán phở, hầm bà lằng. Hai vợ chồng chủ quán lại là người miền Nam mới lạ. Họ nói họ trước sống ở Hố Nai, chúng tôi mới đầu tưởng họ là người Bắc Di Cư nhưng không phải. Quán ăn này nhỏ xíu, bề ngang chừng hai thước, phiá trước có kê một chiếc bàn gỗ với hai băng dài để khách ngồi ăn tại chỗ. Bên cạnh là một quán trông tương tự nhưng là một quán nước, có bán cà phê. Chúng tôi vui trong bụng vì sắp được ăn tô phở nóng. Chủ quán niềm nở tiếp đón chúng tôi, nói chuyện hợp ý hơn vì cùng là dân trước sống ở Miền Nam, dễ thông cảm hơn người ở miền Bắc tới. Một tô phở chúng tôi ăn lèo tèo ít bánh ít thịt cũng khoảng 2 Mỹ Kim, một cốc cá phê sữa cũng khoảng 75 xu cho nên quán cũng không thấy đông khách lắm. Chúng tôi chỉ thấy có bốn người vào ăn phở cùng với chúng tôi. Nhưng dù sao thì chắc làm quán ăn quán nước cũng dễ sống hơn là buôn bán hàng vải, giầy dép vì ít cạnh tranh, đi gần hết khu vực đó chúng tôi chỉ mới thấy có hai quán này mà thôi, không biết còn quán nào khác không.
Tôi thấy anh ta nói về dân chủ tự do, tôi mới hỏi thử:
Tôi bái phục lòng can đảm của con người Việt Nam. Trong một đất nước hoà bình mà bao nhiêu người chỉ vì miếng ăn sẵn sang đi làm nô lệ tại xứ người: đàn bà con gái đi lấy chồng ngoại quốc, trẻ con đi làm nô lệ tình dục, thanh niên thanh nữ đi bán sức lao động cho bọn tư bản thực dân mới. Em bé kia đáng lý phải được nhà nước tạo cơ hôi cho ăn học để lớn lên ngay tại xứ mình rồi trở thành một công dân tốt đóng góp công sức cho xứ sở mình. Nhưng không, em không có cái may mắn đó. Để sống còn, mẹ em đã phải cho em đi sang một xứ lạ xa xăm để tập tranh đấu với đời…. Hướng Dương txđ
|