Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Đi Thăm Cộng Đồng Người Việt Ở Budapest.
Bài của Hướng Dương txđ



p1 Nhân chuyến viếng thăm Budapest, thủ đô của nước Hung Gia Lợi, chúng tôi đã đến khu chợ Bốn Con Hổ để tìm hiểu cuộc sống của hơn năm ngàn người Việt Nam hiện đang sinh sống tại địa phương này.

Vừa đến khách sạn, chúng tôi đã dọ hỏi xem khu làm ăn của người Việt Nam ở vùng Budapest này nằm ở nơi nào và muốn đến đó phải đi ra làm sao.  Vừa nói đến chữ Việt Nam là người tiếp đón khách, một anh chàng thanh niên da đen từ Kenya đến lập nghiệp ở Hung Gia Lợi, vui vẻ lấy một tấm bản đồ thành phố và khoanh tròn vào một khu vực nói:

  • Nơi đây có một khu vực buôn bán lớn của những người Á Châu, chắc có người Việt Nam ở đó.

Chúng tôi hỏi muốn đến nới đó thì đi xe buýt đường số mấy. Anh chàng bảo để anh tìm hiểu rồi sẽ cho biết. Chúng tôi đang ngồi uống nước ở quầy rượu. Chúng tôi thấy anh ta gọi điện thoại cho một người mà anh nói biết rõ khu có người Việt Nam này. Sau khi gọi xong cú điện thoại, anh nói:

  • Tôi không biết có đường xe buýt tới đó hay không, nhưng theo tôi nghĩ thì các anh cứ đi xe taxi.

Chúng tôi hỏi:

  • Nơi đó có xa trung tâm thành phố lắm không?

Anh ta trả lởi:

  • Không xa lắm đâu. Nó nằm ở trong vòng đai của Budapest thôi.

Chúng tôi không nghĩ đi taxi thuận tiện thứ nhất vì tài xế taxi ở Budapest chỉ biết nói tiếng Anh rất ít, không biết liệu họ có hiểu nơi chúng tôi muốn đến là nơi nào hay không. Thứ hai chúng tôi bốn người mà đi taxi là phải đi hai xe, rắc rối thêm nữa. Do đó, anh trưởng nhóm (tên Toàn) quyết định ngày hôm sau chúng tôi sẽ đi hỏi thăm và dọ đường đi. 

Hôm sau 9 giờ sáng chúng tôi đi một chuyến du lịch (tour) bằng xe hơi chạy dọc theo con sông Danube (tiếng Hung là Duna) đi về phía bắc khoảng 200 cây số thăm thú phong cảnh xứ người và sang cả biên giới phía bên kia thuộc xứ Slovakia, một phần của nước Tiệp Khắc xưa kia, có tên Tchecoslovaquia. Chuyến đi chơi này chấm dứt lúc 4 giờ rưỡi chiêu. Khi vể đến Budapest, anh Toàn hỏi người tài xế kiêm dẫn đường (tour guide) - anh chàng này nói tiếng Anh lưu loát - đường xe buýt xe điện để tới khu người Việt đó. Anh ta thả chúng tôi ở trung tâm thành phố và nói đi xe bus số 7 rồi chuyển sang xe điện số 28 thì sẽ đến khu trung tâm buôn bán của người Á châu (Asian market). Hỏi anh ta có phải người Việt làm ăn ở đó không, thì anh ta nói anh ta không biết.

Không như ở thủ đô Prague của nước Tiệp, nơi chúng tôi đã đi thăm qua, chúng tôi không thấy người Việt đi ngoài đường hay trên đường xe buýt ở Budapest, mà đi bộ xung quanh những con phố cũng không thấy có một cửa tiệm nào có tên Việt Nam hay thấy có người Việt buôn bán để có thể hỏi thăm. Do đó chúng tôi cũng hơi nản chí lúc ban đầu nghĩ rằng có thể tập thể người Việt ở đây sinh sống ở đâu xa không gần Budapest. Sau này mới hiểu rằng số người Việt ở đây ít ỏi và họ không làm công nhân các hãng xưởng như ở Prague - chúng tôi không biết ở những nơi khác của nước Hung Gia Lợi có công nhân Việt làm trong các hãng xưởng hay không nhưng sau này cũng không nghe kể đến.

Tuy gặp khó khăn nhưng anh trưởng nhóm của chúng tôi không hề nản chí, anh rất gỉỏi nhìn bản đồ tìm đường vì anh đã quen đi chơi tự túc và cứ đến ngã tư là anh nhìn tên đường để xác định vị trí. Trên tấm bản đồ thành phố chúng tôi lấy ở phi trường, tuy nhỏ nhưng có đấy đủ chi tiết, có chỉ những nơi có hầm metro (xe điện ngầm) chỉ các đường xe buýt và xe điện rỏ ràng. Tuy nhiên một tay mơ như tôi có đọc cũng không thể tìm được xem nơi đâu là nơi đâu vì các tên đường và tên những công trường, những khu vực đều bằng tiếng Hung, rất khó đọc, khó nhận diện, và dễ lẫn lộn. Đi trên đường phố rộng thênh thang của thủ đô Budapest với những toà nhà to lớn năm bẩy từng hai bên đường, đại lộ nào tôi đi qua cũng như đại lộ nào. Thế nhưng anh trưởng nhóm của chúng tôi chỉ thoáng nhìn một cái là anh biết liền. Lần đi chơi kỳ trước tại Prague anh đã làm cho tôi khâm phục tài tìm đường của anh rồi. Có lần tôi đã nói đùa với anh, “Nếu trước kia – 25 năm trước – anh đi Kămpuchia với tôi thì tôi đã không bị lạc trong rừng!”

Như thế anh cứ vừa nhìn tên phố, vừa nhìn bản đồ tìm đường xe điện số 28 và anh nói chúng tôi khỏi cần lấy xe buýt số 7 nếu chịu khó đi bộ một chút. Chúng tôi đồng ý đi bộ để còn có thể xem phố phường vì Budapest là một thành phố cổ rất đẹp - được gọi là Paris của miền Đông. Chừng 40 phút sau đến một công trường nhỏ, có vườn hoa, có nhiều  dân tụ tập đi lại, có cửa hầm metro. Anh bảo chúng tôi là phải xuống dưới đó mua vé vì vé bán trên xe đắt hơn. Một vé xe khoảng 1 Mỹ kim rưỡi chỉ đi được một chuyến xe trên mặt đường, rời xe chuyễn sang xe khác là phải dùng một vé khác, tuy không tốn kém bao nhiêu nhưng không hiểu sao tự nhiên mình vẫn thấy hao và muốn tiết kiệm bằng cách… đi bộ, nếu đoạn đường không quá dài. Như thế chúng tôi xuống mua vé, mua một tập 10 vé thì rẻ hơn, nhưng cũng chẳng đi được bao nhiêu lần. Do đó anh trường nhóm quyết định mua vé ngày – giá đắt khoảng năm sáu lần vé chuyến -  tức là đi từ 6 gìờ chiều hôm ấy cho đến 6 giờ chiều hôm sau. Chúng tôi nhìn bà bán vé - rất may bà này tuy lớn tuổi nhưng lại nói được tiếng Anh kha khá – xé bốn vé từ trong một cuốn vé còn khá dầy – không có bao nhiêu người mua loại vé này? - rồi cầm cây bút viết ngày giờ lên trên mỗi tấm vé để ghi thời gian hiệu lực của nó. Anh trưởng nhóm cười và nói bằng tiếng Việt với chúng tôi, “Đến năm 2009 rồi mà cũng vẫn phải viết hiệu lực lên vé bằng bút mực như thể cách đấy 30 chục năm về trước!"

p2Chúng tôi hí hửng cầm mỗi người một tấm vé đi nguyên ngày, muốn đi bao nhiêu chuyến xe thì đi, tha hồ đi chơi bất cứ đâu mà không sót ruột vì phải trả tiền xe từng chuyến một. Chúng tôi đi băng qua con đường lớn Jozsef korút có nhiều chuyến xe điện chạy về hướng bờ sông. Anh trưởng nhóm nhìn ra liền và nói, “Lát nữa trở về mình lấy xe điện số 4 ở đây về khách sạn!” vì khách sạn của chúng tôi nhìn ra con sông Danube.

Chừng năm phút sau, chúng tôi đến một con đường cắt ngang và ngay nơi đây có rất nhiều xe điện chạy vể hướng khu chợ Á Châu, trong đó có xe số 28.  Trong khi đứng chờ xe 28, chúng tôi thấy ngày nơi đây có một tiệm ăn Tầu. Trong bụng tôi đã nghĩ là chắc khu chợ Á châu cũng ở quanh quanh đâu đây thôi, nhưng không phải. Chuyến xe điện chạy cả nửa tiếng đồng hồ qua hết các khu phố xầm uất rồi đến những khu như thể ở ngoại ô nghèo nàn, không còn thấy có những toà nhà to lớn nữa, không còn những cửa hàng buôn bán. Tôi hơi sốt ruột hỏi một bà hành khách xem khu buôn bán của người Việt Nam ở đâu thì bà ta nói được tiếng Anh nên hỏi lại tôi:

  • Ông tìm cái gì?

Tôi đói bụng bèn trả lời:

  • Tôi muốn kiếm một tiệm ăn Việt Nam.

  • Ở đây tôi không biết có tiệm ăn Việt Nam nào cả, chỉ có tiệm ăn Tầu. Đến 2 trạm nữa ông hảy xuống và lấy chiếc xe búyt chạy ngang với con đường này thì đến một khu phố có tiệm ăn Tầu.

Bà ấy nói một tên đường mà tôi nghe cũng chẳng hiểu. Anh trưởng nhóm bèn quả quyết:

  • Mình cứ đi tiếp con đường này thêm một quãng nữa xem sao. Tôi nhìn trên bản đồ thì thấy mình đi đúng đường rồi. Chắc không còn bao xa nữa đâu!

Chiếc xe càng ngày càng đi vào một khu vực vắng vẻ quanh hiu. Và trời đã về chiều, lúc đó chắc cũng đã gần 7 giờ tối tuy trời vẫn còn sáng. Xe đi thêm vài chặng nữa thì chúng tôi xuống, định bụng quay về, thì thấy bên kia đường những bảng hiệu tiếng Tầu và bên dưới có tiếng Việt, đặc biệt là có bảng của một tiệm cắt tóc Việt. Tôi mừng trong bụng vì biết chắc chúng tôi đã tìm ra đúng khu vực làm ăn của người Việt nam ở Budapest rồi. Nhưng lúc đó đã chiều tối, không còn chỗ nào mở cửa. Nhìn hai bên chỉ là những toà nhà p3cũ kỹ, xưa kia (thời còn cộng sản?) dùng làm kho chứa hàng hay khu nhà máy sản xuất kỹ nghệ, nay được người Á châu thuê lại để làm ăn buôn bán. Đi chừng một quãng nữa, chúng tôi thấy ngay nơi đường xe điện chạy qua, một cái cổng ra vào có ghi “Chợ Bốn Con Hổ” chữ viết ngòng ngoèo khó đọc dưới bốn chữ Tầu lớn. Thế là chúng tôi thấy chắc ăn. Cổng còn mở nhưng không thấy bóng dáng một người Việt Nam nào cả, chỉ có mấy tên gác dan người Hung to lớn ngồi canh cửa và một số người Hung ra vào. Tôi đưa máy hình lên tính chụp thì tên gác dan hét một câu gì, tay ra dấu không cho chụp. Đi một quãng nữa lại có một chiếc cổng tương tự, nhưng không thấy bóng dáng những tên gác cổng, tôi bèn đưa máy chụp tấm hình cho chắc ăn.

Chúng tôi tính đi băng qua đường nhưng xe vận tải xe buýt chạy nhiều hơi nguy hiểm nên đành đi tới nơi có ngã ba đầu đường nơi có lối cho người đi bộ băng qua. Nhưng mới đi chừng nửa đường thì gặp một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi đi xe đạp trên vỉa hè, chở một đứa bé chừng mươi tuổi đàng sau xe. Anh này nghe chúng tôi nói tiếng Việt với nhau, bèn dừng lại hỏi:

  • Các bác đi đâu đó ạ?

Anh trưởng nhóm chúng tôi bắt chuyện:

  • Chúng tôi đi tìm một tiệm ăn của người Việt mình.

  • Ở đây không có tiệm ăn Việt, chỉ có tiệm ăn Tầu. các bác đi tới chút nữa thì có, nhưng giờ này chắc không còn mở cửa. Thế các bác đi tham quan hả? Các bác ở đâu đến thế?

  • Chúng tôi ở Pháp còn anh bạn tôi ở Mỹ đến. Chúng tôi đi chơi Budapest và luôn tiện đi thăm cộng đồng người Việt mình ở đây. Khu buôn bán của người Việt mình nằm ở đâu?

Tay chỉ vào phía trong khu vực có tường cao và bốn năm cái cổng tương tự như hai cổng chúng tôi vừa thấy, anh ta nói:

  • Thì tất cả người Việt chúng em tụ tập nơi đây. Nhưng bây giờ đóng cửa hết rồi, 5 giờ là chẳng còn ai nữa hết. Sáng mai các bác đến chơi, 5 giờ sáng bắt đầu họp chợ.

  • Thế họp đến mấy giờ?

  • Cho đến 3 giờ chiều thôi.

  • Thế có quán ăn nào không vậy anh?

  • Quán ăn cũng ở trong đó. Sáng mai các bác đến xem đi.

  • Thế tổng số người Việt mình ở đây là bao nhiêu?

  • Trên dưới 5 ngàn người, nhưng không ai biết con số chắc chắn đâu các bác ạ.

  • Thế anh sang đây đã lâu chưa?

  • Cháu sang đây cũng đã 9 năm rồi.

  • Ở Việt Nam quê anh ở đâu?

  • Dạ quê em ở Hà Tĩnh.

Sau này hỏi thăm mới biết rất nhiều người sang Budapest sinh sống là từ những vùng Nghệ An Hà Tĩnh Gio Linh. Có lẽ người này kéo người kia lần lần sang theo. Tôi nghĩ cuộc sống ở vùng miền Bắc Trung Phần này khốn khổ, khó sống nên người dân theo nhau bỏ nhà bỏ cửa sang đây lập nghiệp. Vì họ nghèo không có nhiều vốn nên sang đất Hung kiếm sống cũng khó khăn, đời sống của họ chật vật hơn người Việt sinh sống bên Tiệp Khắc.

  • Thế ở đây làm ăn có khá không?

Anh ta cười gượng:

  • Chỉ tạm đủ sống thôi các bác ạ.

Tôi nói chêm vào:

  • Nhưng chắc cũng còn hơn là ở bên nhà chứ gì?

Anh ta lại cười. Tôi nhìn thằng bé ngồi sau bố, nó im thin thít, chỉ nhìn những người lạ mà không nói câu gì. Tôi hỏi nó dăm ba câu như cháu tên gì? cháu lên mấy? nhưng nó cũng chẳng trả lời. Tôi hỏi người bố:

  • Thế cháu bé sang đây được đi học chứ?

  • Vâng cháu được đi học đầy dủ.

  • Thế anh sang đây dưới dạng gì? Có phải xuất khẩu lao động không?

Tôi không thấy anh ta trả lời. Tôi hỏi:

  • Thế người Việt mình sang đây có được ở lại chính thức hay không? Có giấy tờ hợp pháp không?

  • Có chứ. Chúng em có giấy tờ mới ở lại được chứ!

Thấy chúng tôi hỏi những câu khó trả lời anh ta chào chúng tôi để ra về:

  • Thôi các bác đi chơi nhé! Sáng mai các bác tới đây tham quan đi.

Rồi anh ta đạp xe chở đứa con đi. Chúng thấy trời đã xâm xẩm tối nên quyết định quay trở về. Có chuyến xe chạy ngược lại, chúng bèn lêo lên. Về đến bến, chỗ chúng tôi đã lên xe lúc ban nãy, thì là tận cùng đường. Chúng tôi xuống xe và quyết định vào tiệm ăn Tầu, thấy lúc trước khi lên xe, ăn bữa cơm tối. Ăn xong, chúng tôi lững thững đi thêm một quãng, leo lên chuyến xe điện số 4 để về khách sạn. Budapest có một hệ thông chuyên chở công cộng rất hữu hiệu, khách đi không phải chờ lâu, cứ vài ba phút là có chuyến. Xe búyt cũng rất nhiều, chạy liên tục, nhất là ở vùng trung tâm thành phố. Xe chạy trong đường hầm, hay chạy trên mặt đường đều sạch sẽ tiện nghi, dân đi xe tuy không sang trọng nhưng ăn bận cũng khá tươm tất.

Sáng hôm sau lúc 9 giờ chúng tôi quyết trở lại nơi ấy. Chúng tôi xuất phát từ khách sạn ở gần công trường Boraros ter ngay chân cầu Polóti hid  lấy xe điện số 4 chạy trên con đường Ferenc korút để tới công trường  Blaha Lujza ter là nơi chúng tôi đã tới chiều hôm trước để lấy xe điện số 28. Lúc này thì anh Toàn bảo đi chuyến xe điện 28 hay chuyến 62 cũng đến đường Kobányai là con đường ngoại ô nơi có Chợ Bốn Con Hổ. Ngoài ra nếu đi xe búyt thì chúng tôi cũng có thể lấy chuyến số 9 hoặc số 109. Do đó chúng tôi lấy chuyến xe điện 62 và đến nơi lúc gần 10:00 sáng. Chúng tôi xuống xe ở cổng số 4. Có tất cả 5 cồng đi vào một khu vực lộ thiên mênh mông rộng chắc cả nửa cây số vuông.

p4Vừa xuống xe đã thấy một thiếu nữ người Việt Nam kéo một chiếc xe chở mấy cái máy nặng nể có giây lòng thong, hỏi ra mới biết đó là một máy hàn điện. Chúng tôi hỏi có tiệm ăn trong khu chợ hay không để đi tìm phở ăn. Cô ta nói có chộ bán cơm nhưng không biết có bán phở hay không? Chúng tôi qua chiếc cổng vào bên trong thì thấy như thể chúng tôi trong chợ Kim Biên ở Chợ Lớn ngày xưa. Những xạp hàng bán quần áo, bán vali, bán sách tay, bán đồ trang phục phụ nữ, bán giầy dép, bán kính san sát bên nhau, sạp lớn sạp nhỏ, chạy dài mênh mông trên một khu rộng trước đây là nhà kho chứa hàng bỏ hay là một khu đất bỏ trống chúng tôi cũng không biết nữa. Chúng tôi đi lòng vòng và có cảm tưởng như đang đi trong một ngôi chợ ở Việt Nam vì những cửa hàng toàn do người Việt làm chủ, chỉ trừ có một vài xạp nhỏ nơi cổng số 3 thấy có một hai người Hung bán độ điện tử. Đi đến đâu chúng tôi cũng dừng lại hỏi thăm nói dăm ba câu chuyện tìm hiểu đời sống của những người Việt sinh sống nới đây.

Nói chung thì dân Việt sống ở Budapest không có mức làm ăn như ở Prague, là nơi chúng tôi thấy có những cửa tiệm hẳn hoi, nhiều p5nhà buôn đồ nhập cảng có cửa hàng to lớn có nhiều quán ăn, có toà báo, có phòng mạch, phòng khai thuế, có sinh hoạt thanh thiêu niên, có cơ sở giáo dục, có tiệm ăn lớn chứa cả mấy trăm người. Tuy nhiên gặp lại người Việt nơi đây, cũng như bất cứ nơi đâu khác, vẫn thấy vui vui, cuộc sống ở đây tuy khó khăn hơn nơi khác nhưng chắc chắn tương lai sáng sủa hơn, nhất sau này là đối với con cháu những kẻ phải bỏ xứ ra đi kiếm sống. Nói chuyện với họ thấy họ hăm hở kể lại chuyện họ từ bỏ quê nhà đi lập nghiệp nơi xứ người, chúng tôi cảm thấy có một sự cảm thông vì chúng tôi cũng đã bỏ nước ra đi, mặc dù lý do có khác, chúng tôi ra đi tìm tự do là chính, tìm cuộc sống êm đềm là phụ.

Như thế chúng tôi đi quanh quẩn xem xét, đi dọc theo những con đường đi giữa những sạp hàng hóa, có chỗ lộ thiên, những sạp nhỏ hơn có khi chỉ lèo tèo vài món hàng bán, có lẽ vì chủ sạp nghèo ít vốn, mới bắt đầu bước vào con đường tranh đấu với cuộc sống gay go nơi đây. Năm nay kinh tế Hung Gia Lợi gặp khó khăn, hàng hóa ế ẩm vì phần lớn là bán cho dân chúng địa phương. Chúng tôi thấy một số ít khách hàng người Hung đi sắm đồ. Một cặp trai gái đi mua hàng đang trả giá, thấy chủ sạp người Việt nói tiếng Hung với họ, tôi thấy quả khả năng thích ứng của người Việt giỏi. Hỏi thăm một người buôn bán nơi đây thì được biết họ đã học tiếng Hung trước ở Việt Nam trước khi sang đây.

p6Đi tìm quán ăn, hỏi thăm được chỉ đường nhưng mãi vẫn không kiếm ra, lúc nãy chúng tôi thấy có một chỗ bán bánh mì thịt nhưng lại ghi tiếng Hung, không ghi tiếng Việt nhưng chủ nhân trông rõ không phải là người Hung. Có lẽ bởi vì quán này nhắm vào khách hàng người Hung. Một lúc sau thấy một cô gái bưng hai tô phở hay hủ tiếu gì đó chắc đi giao cho người gọi mua bằng cell phone. Sau này mới hiểu ra người trong khu vực làm ăn buôn bán này người ta toàn liên lạc với nhau bằng điện thoại di động, thảm nào cứ thấy những thiếu nữ cầm chiếc điện thoại gọi nhau ơi ới.

Chúng tôi được kể lại nhiều thiếu nữ mới ở Việt Nam sang không có vốn để buôn bán phải làm công cho các quán cơm, có công việc chỉ là đi giao cơm cho những người đặt mua. Và họ kiếm được chừng 100-150 Mỹ kim một tháng. Mặc dù đời sống ở Hung Gia Lợi tuy rẻ rúng hơn ở bên Mỹ hay bên tây Âu nhưng cũng đắt đỏ hơn là ở Việt Nam, chúng tôi thấy cuộc sống lúc đầu của họ thật cơ cực.

Đi một lúc thì chúng tôi cũng tìm ra được một quán bán cơm đĩa, bán hủ tíu, bán phở, hầm bà lằng. Hai vợ chồng chủ quán lại là người miền Nam mới lạ. Họ nói họ trước sống ở Hố Nai, chúng tôi mới đầu tưởng họ là người Bắc Di Cư nhưng không phải. Quán ăn này nhỏ xíu, bề ngang chừng hai thước, phiá trước có kê một chiếc bàn gỗ với hai băng dài để khách ngồi ăn tại chỗ. Bên cạnh là một quán trông tương tự nhưng là một quán nước, có bán cà phê. Chúng tôi vui trong bụng vì sắp được ăn tô phở nóng. Chủ quán niềm nở tiếp đón chúng tôi, nói chuyện hợp ý hơn vì cùng là dân trước sống ở Miền Nam, dễ thông cảm hơn người ở miền Bắc tới.  Một tô phở chúng tôi ăn lèo tèo ít bánh ít thịt cũng khoảng 2 Mỹ Kim, một cốc cá phê sữa cũng khoảng 75 xu cho nên quán cũng không thấy đông khách lắm. Chúng tôi chỉ thấy có bốn người vào ăn phở cùng với chúng tôi. Nhưng dù sao thì chắc làm quán ăn quán nước cũng dễ sống hơn là buôn bán hàng vải, giầy dép vì ít cạnh tranh, đi gần hết khu vực đó chúng tôi chỉ mới thấy có hai quán này mà thôi, không biết còn quán nào khác không.

p7Ăn xong bắt phở, chúng tôi lang thang đi sang phía bên kia đường là khu vực người Tầu làm ăn, nơi đó cũng có một ít người Việt khá giả hơn có cửa hàng buôn bán nơi đây. Vào trong khu vực này chúng tôi thấy có những toà nhà nhiều từng, có đường rộng cho xe hơi vào và có nơi cho xe đậu. Nơi những cửa hàng mở ra trông như xưa kia là những công xưởng nay sửa sang lại để làm nơi buôn bán. Chúng tôi thấy có nhiều dân bản xứ đia lại nơi đây chứng tỏ phiá bên trong vẫn là những cơ xưởng hay cơ sở làm ăn của người Hung. Những xe hơi mới đẹp đậu thành hàng cũng là dấu hiệu chủ nhân là người bản xứ giầu có hơn là những dân Á Châu buôn bán nơi đây. Tuy nhiên những cửa hàng của người Tầu to lớn hơn nhiều, họ bán cả những sản phẩm sang đắt tiền chứng tỏ người Tầu làm ăn lớn hơn vì có nhiều vốn hơn.
Chúng tôi nói chuyện với một người đàn ông còn trẻ tuổi chừng bốn mươi, mới được cho biết rằng vào năm đầu thập niên 1990 Hung Gia Lợi mở cửa cho phép người dân ở Trung Quốc được vào nước Hung mà không cần visa. Lợi dụng cơ hội này 20 ngàn người Tầu ồ ạt vào nước Hung và ở lại đó luôn, không về nước nữa. Nay thì ưu đãi này đã chấm dứt.
Tôi hỏi anh ta:

  • Còn người Việt Nam sang Hung bằng cách nào? Vào Hung có hay không có giấy phép?

  • Chúng em vào đây là vào chính thức, có giấy phép được ở lại sinh sống ở đây đấy chứ.

  • Thế các anh sang đây đã lâu chưa?

  • Một số đi du học rồi ở lại luôn, một số khác mới sang sau này…

  • Thế người Việt ở đây có được những quyền lợi của người công dân Hung hay không?

  • Thỉ được phép ở lại là chúng em được hết cả những quyền lợi xã hội của người dân ở đây.

  • Thế con cái các anh có được đi học đàng hoàng không?

  • Thì có chứ, trẻ con Việt đều được đi học như những trẻ con Hung thôi.

  • Ốm đau có được chữa chạy ở bênh viện không?

  • Có chứ, chúng em cũng được cả quyền bầu cử nữa! Không được bầu quốc hội hay bầu chủ tịch nước nhưng ở địa phương thì vẫn được bầu đấy!

  • Thế ở đây lâu có thể xin vào công dân Hung được không?

  • Chúng em chẳng nghĩ đến chuyện vào công dân đâu. Có vào thì cũng thế thôi, quyền lợi chúng bây giờ có đầy đủ rồi. Nước Hung là nước dân chủ tự do mà. Ở đây chúng em muốn làm gì thì làm.

Tôi thấy anh ta nói về dân chủ tự do, tôi mới hỏi thử:

  • Ở Việt Nam bây giờ có dân chủ tự do như bên Hung không?

  • Cũng chưa có dân chủ tự do như ở đây đâu.

  • Thế người dân ở bên mình có thèm dân chủ tự do hay không?

  • Em thấy bây giờ chẳng ai nghĩ đến chuyện chính trị cả. Không ai để ý đế chính trị nữa mà chỉ nghĩ đến cuộc sống mà thôi.

  • Nhưng ở bên Hung vào những năm 1990 người dân Hung tranh đấu mời được dân chủ tự do..

  • Dân mỉnh không giống dân Hung các anh ơi. Dân mình không nghĩ gì đến quyền của người dân. Chỉ muốn sống yên ổn…

  • Thế anh có hay về Việt nam chơi không?

  • Vài ba năm em cũng về chơi một lần. Nhưng cuộc sống nơi đây cũng gay go lắm, nhất là vào lúc này, kinh tế xuống lắm…

p8Thấy nói chuyện cũng đã khá lâu, chúng tôi cám ơn anh ta và chào giã từ. Chúng tôi đi tiếp một lúc thì đến nơi có một cồng to lớn khác đi vào khu vực này, nơi đây có nhiều xe hơi đậu. Địa phận này do người Hung kiểm soát. Có lẽ nơi đây xưa kia là một nhà máy vì vẫn còn những cấu trúc của một cơ xưởng chế tạo kỹ nghệ nặng.

Thấy không còn những cửa tiệm nữa, chúng tôi bèn đi ra ngoài  và p9đi dọc theo vỉa hè trên đường Kobányai. Dọc theo đó là một chuỗi những cơ sở làm ăn của người Tầu bán đồ nhập cảng từ Trung Quốc. Người Tầu sang Hung làm ăn chắc thuộc thành phần đã làm ăn buôn bán ở xứ họ nên họ vừa có vốn lớn vừa biết tổ chức công cuộc làm ăn của họ - nói lớn là so với người Việt ở đây thôi chứ không bằng ở Pháp hay ở Mỹ. Lác đác còn p10một hai tiệm thấy có bán hàng mang từ Việt Nam sang như những chiếc quạt hay những tấm hình vải thêu, nhưng chúng tôi cũng không vào hỏi tìm hiểu thêm, Có một điều lạ là không hiểu tại sao cái tên chợ được đặt là EuropeAsia Market. Có lẽ nơi đây cũng bán cả những đồ nhập cảng từ Tây Âu chăng. Hay là vì bán cả hàng Hung nữa. Vì không vào nên chúng tôi cũng chẳng biết. Chúng tôi cũng chẳng thiết biết làm gì. Nó cũng không dính dáng gì đến cộng đổng người Việt ở nơi đây.



Kết Luận:
Chúng tôi đã dành cả một buổi sáng để đi thăm thú vùng Chợ Bốn Con Hổ là nơi có khoảng năm ngàn người Việt di dân đang sinh sống tại Budapest. Chúng tôi thích thú vì được gặp và nói chuyện với nhiều người Việt đang làm ăn kiếm sống tại nơi đây. Đại đa số là thanh niên trên dưới 30 tuổi đã liều mình bỏ quê hương sang lập nghiệp ở xứ người để cầu mong có được một cuộc sống tốt đẹp hơn về mặt vật chất. Nhưng liệu cái điều họ mong mỏi có dễ thực hiện hay không, giấc mơ của họ có đến với họ hay không thì lại là chuyện khác. Ở bên Hung Gia Lợi không như bên Mỹ, không có “the Hungarian dream” như “the American dream”. Chúng tôi đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng và 10 Mỹ kim trong túi. Thế mà mười năm sau, chúng tôi đã có nhà cửa xe hơi, có công ăn việc làm chắc chắn. Còn nhười Việt di dân sang Hung Gia lợi chắc khó có thể có được những điều kiện tốt đẹp như tôi đã có. Khi ngồi ăn phở ở một cái quán cóc tựa như một quán ở Bến Bắc Mỹ Thuận ngày xưa, tôi đã nói chuyện với một em bé chừng 14 tuổi  hầu bàn cho quán. Hỏi em sang Hung được bao lâu, em nói mười tháng. Hỏi em đi với ai, em nói em đi một mình. Hỏi thế em có nhớ nhà không? Em nói em nhớ mẹ em lắm!

Tôi bái phục lòng can đảm của con người Việt Nam. Trong một đất nước hoà bình mà bao nhiêu người chỉ vì miếng ăn sẵn sang đi làm nô lệ  tại xứ người:  đàn bà con gái đi lấy chồng ngoại quốc, trẻ con đi làm nô lệ tình dục, thanh niên thanh nữ đi bán sức lao động cho bọn tư bản thực dân mới. Em bé kia đáng lý phải được nhà nước tạo cơ hôi cho ăn học để lớn lên ngay tại xứ mình rồi trở thành một công dân tốt đóng góp công sức cho xứ sở mình. Nhưng không, em không có cái may mắn đó. Để sống còn, mẹ em đã phải cho em đi sang một xứ lạ xa xăm để tập tranh đấu với đời….

Hướng Dương txđ
6 tháng năm 2009

 

Trở lại Đầu Trang