Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

DANG DỞ
Truyện Ngắn của Kim Hà



Phượng ngập ngừng chưa bước lên xe. Các băng đều chật ních người, kể cả chỗ đứng. Nàng đang lúng túng với cái xách tay quá nặng, đầy ắp đồ ăn, thì chú Chín nói:
-     Lên đại đi, cô Hai. Xe sắp chạy rồi.
-    Còn cái xách này, chú Chín?
-    Mình nhờ người ta bỏ trên mui xe.

Phượng nghĩ ngay đến cái bánh bông lan mới làm xong hồi hôm. Chắc nó sẽ bẹp dúm như đất sét! Phượng rụt rè đề nghị.
-     Hay mình đi chuyến sau?

Chú Chín sẽ kêu lên.
-     Ý! không được đâu cô Hai, đi chuyến sau sẽ bị trễ. Vì tới bến, mình còn phải đi đò vô trỏng. Mất hơn một giờ đồng hồ. Trời tối quá đi không an toàn.

Người đàn ông mà Phượng kêu chú Chín khoảng trên dưới năm mươi tuổi. Nhìn bề ngoài, người ta biết ngay là một nông dân hiền hòa, cục mịch, nước da chú đen sẫm vì rám nắng. Cái hàm chú bạnh ra nói lên một nghị lực sắt đá, một ý chí khó lay chuyển. Đôi mắt chú tuy rất sáng nhưng lại thoáng một nét buồn, như dấu một tâm sự u uẩn nào đó! Chú đã được ông Thiếu Úy Mai, Trưởng đồn Thanh Long khẩn thiết nhờ lên Sài gòn đón vợ ông xuống ăn Tết. Vì biết hai người mới cưới nhau, tình yêu còn nồng thắm lắm, nên chú đã nhận lời. Chú sẽ mất trọn hai ngày đường, một ngày đi và một ngày về.

... Chiếc đồng hồ chỗ quày bán vé chỉ đúng một giờ trưa, thì người tài xế rồ máy. Cả chiếc xe đò rùng mình vài cái rồi nằm im, dường như bất mãn vì phải chở quá nặng. Anh lơ xe nhanh nhẹn nhảy xuống, mở ca pô, lấy dây câu bình điện. Người tài xế vừa lấy khăn lau mồ hôi trán, vừa lẩm bẩm chửi thề. Chiếc xe bực tức phun khói cả một khoảng không. Sau cùng nó mới chịu nổ máy, nhưng nổ một cách hằn học, không đều. Để tranh thủ thời gian, người tài xế nhấn ga cho xe dzọt về phía trước. Không đề phòng nên Phượng ngã chúi xuống. Một anh quân nhân bèn nhường chỗ cho nàng.
-     Ngồi xuống đây, cô Hai. Qua khỏi Cái Răng là tôi xuống rồi hà!
 Phượng bẽn lẽn, vuốt lại mấy sợi tóc lòa xòa trước mắt, miệng lí nhí nói:
-     Dạ cám ơn Ông!

*   *
*

Phượng vừa cất xong mâm mứt dừa vào hộp thì nghe tiếng chó sủa. Nàng đi nhanh ra cổng; một người đàn ông lạ mặt, đang so lại địa chỉ trên bao thư với cái bảng số gắn ở tường.
-    Thưa Cô, Cô có phải bà Thiếu Úy Mai?
-     Dạ phải.
-    Ông Thiếu Úy có nhờ tôi đưa lại cô cái thư này.
Thấy có tin chồng, Phượng vội vã mời khách vào nhà.
-    Ông mới ở Chương Thiện lên?
-    Dạ!

Chú Chín, phải người khách chính là chú, cảm thấy mình nhỏ bé trong căn phòng quá sang trọng. Chú cố thu hẹp người lại trong chiếc phô tơi bọc nhung. Những bức tranh đủ màu sắc treo trên tường, những chậu kiểng với các loại cây quý giá, cái bồn cá với những con cá vàng bơi lờ lững ở trong, tất cả đều xa lạ với chú! Chú quên cả đói, quên cả mệt. Chú đâm ra ân hận, tự trách mình đã “dẫn xác” đến nơi kỳ cục này. “Ăn nhằm gì, - chú Chín tự an ủi – Miễn là giúp ích được cho chú Hai!”

Ba má Phượng thấy nói có khách ở xa lại, cũng ra nói chuyện với chú. Ba nàng lịch sự hỏi dăm ba câu chuyện rồi rút lên lầu. Ông muốn để người khách được tự nhiên; vì nhìn chú Chín, dù kém thông minh đến đâu, người ta cũng biết chú không thoải mái. Phải nói rõ chú không thoải mái một chút nào. Má Phượng vồn vã hơn, bà kêu người giúp việc đi mua một tô phở đặc biệt cho chú Chín. Biết chú sẽ nghỉ lại đêm, bà mời chú ra phòng ăn rồi lo dọn chỗ ngủ cho chú.

Lát sau, người làm bưng tô Phở về, đặt ngay ngắn trên cái dĩa lớn. Mùi phở bốc lên thơm ngào ngạt, làm chú Chín nuốt nước bọt. Cơn đói được đánh thức dậy, bắt đầu hành hạ chú. Từ sáng sớm đến giờ, ngoài một dĩa cơm nuốt vội ở Bắc Mỹ thuận, chú chưa ăn gì thêm. Chú từ tốn vắt chanh vào tô phở. Những trái ớt xiêm đỏ ối này chắc phải cay xè lưỡi, mà càng cay càng ngon. Má Phượng rót đầy ly la de cho chú rồi bước ra ngoài.
Chú Chín nhắp miếng la de đầu tiên, sao mà nó “đả” thế! Nó vừa đăng đắng, vừa lạnh buốt. Chú có cảm tưởng nó không chạy xuống dạ dày, mà nó đi thẳng vào lục phủ ngữ tạng của chú! Còn những miếng thịt bò tái, ôi chúng mềm một cách lạ lùng! Ở Thủ đô, có khác! Cái gì cũng ngon. Chẳng bù cho chỗ chú ở, tối ngày ăn thịt trâu, dai như giẻ rách!

Chú Chín ực ngụm la de cuối cùng. Chú chép cái miệng vì hãy còn thèm. Nếu có hai tô Phở với hai chai la de nữa, chú cũng có thể thanh toán một cách không khó khăn. Chú nắn túi áo lấy hộp thuốc rê. Nhưng chú khựng lại. Cái gạt tàn thuốc lá bằng sứ này, chắc chắn không phải chỉ để dùng cho loại thuốc rẻ tiền. Chú đành dẹp ý định trên, và tự hỏi: “Mình phải làm gì tiếp?” Chú lơ đãng nhìn lên trần nhà. Bây giờ chú mới nhớ lại sự vắng mặt của Phượng. Tiếng tằng hắng nhỏ làm chú quay lại. Má Phượng hỏi:
-    Phở ăn có ngon không? Chú no chưa? Chú muốn ăn nữa không?

Câu hỏi thật vô duyên. Chú chỉ ậm ừ cho xong chuyện. Má Phượng gợi chuyện muốn biết qua thân thế của gia đình chú. Thật ra bà hỏi vì bản tính tò mò chứ không có một hậu ý nào.
-     Gia đình tui làm ruộng ở Chương Thiện đã mấy đời. Tuy không giàu có, nhưng chúng tui cũng có nhà, có vườn. Vợ tui sanh được sáu cháu. Thế rồi một hôm, quân du kích về làng. Bên Quốc gia hay được. Hai bên đụng trận lớn lắm. Máy bay bỏ lầm một trái bom rớt ngay giữa hầm, làm vợ con tui thiệt mạng. Riêng con Út theo tui ra tỉnh nên sống sót. Hai cha con tui bây giờ làm ruộng sống cho qua ngày. Nhiều người khuyên chúng tui ra tỉnh ở cho an toàn. Nhưng tui không thể sống xa mấy công ruộng của tui được.

Nghỉ một lát chú nói tiếp, giọng trầm hẳn xuống:
-    Ông cha tui đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi trên đó. Giờ đây nó lại thấm máu của vợ con tui, tui bỏ đi sao đành? Ông Thiếu Úy Mai thật hiền lành, tui tội nghiệp hết sức. Tui coi ổng như em út tui. Thỉnh thoảng ổng cũng có qua nhà nhậu với tui thật là dzui dzẻ.

Má Phượng ngồi im để nghe. Bà không ngờ câu chuyện lại bi thảm như vậy! Bà khéo léo xin lỗi chú Chín, vô tình bà đã khơi lại vết thương lòng của chú. Sau đó, bà đưa chú về phòng ngủ của Thái, em ruột Phượng, đã nhập ngũ tháng trước. Chú Chín không mong gì hơn. Chú thực sự mệt mỏi sau một ngày dài ngồi trên xe. Men la de làm cặp mắt chú nặng trĩu. Vừa đặt mình xuống là chủ ngủ ngay. Chú mơ màng thấy vợ con chú mỗi người được một tô Phở lớn.

Chương Thiện, ngày… tháng… năm 1969
Phượng yêu!
Khổ quá, anh lại thất hẹn với em rồi! Chiều nay, theo như chương trình đã định, anh phải đưa em đi Chợ lớn sắm đồ. Trên đường về, mình sẽ ghé chợ bông, mua một cành mai vàng về biếu Ba Má. Nhưng tình hình lại sôi động một cách bất ngờ. Lệnh cấm trại trăm phần trăm đã được ban hành. Tuần rồi, tụi nó mới tràn ngập hai tiền đồn đó em ạ! Tình trạng như vậy không cho phép anh bỏ anh em đồng đội để về với cục cưng của anh được. Em đừng trách anh nghen! Bọn Việt cộng thật đáng tội tùng xẻo! Vì chúng mà anh mang tiếng hứa… cuội hoài.
Nếu em muốn biết thế nào là muỗi U Minh, nếu em muốn ngắm ánh hỏa châu trong đêm Giao thừa, nếu em muốn ăn một cái Tết thật thanh đạm với anh em binh sĩ, em hãy xin phép Ba Má theo chú Chín xuống với anh. Em sẽ được tiếp rước như một Nữ hoàng. Chú Chín là người rất tin cẩn của anh, xin em đừng ngại.
Mong gặp em sớm.
Hôn em.
Tái bút: Nếu vì một lý do nào đó, em xuống không được, em cứ an tâm ở nhà, anh hứa không giận đâu!

Phượng đọc đi đọc lại bức thư mãi mà không chán. “Em không xuống, anh không giận đâu”. Nói cứ như là thật! Vợ chồng biết nhau quá mà! Anh ấy mà không giận thì cứ gọi là trời sụp! Lẽ dĩ nhiên là nàng sẽ đi thăm chồng. Nhưng nghĩ tới lát nữa phải vô xin phép ông Bô bà Bô, nàng thấy không hứng khởi chút nào. Chắc chắn ông bà sẽ gàn lại.
Nhưng Phượng thầm nghĩ “con gái phải theo chồng chứ!”,rồi nàng mạnh dạn gõ cửa. Có tiếng ba nàng vọng ra:
-    Cứ vào!

Vừa thấy nàng, ba nàng hỏi ngay:
-    Gì đó con?
-    Dạ, con xin phép ba má cho con xuống ăn Tết với ảnh. Chú Chín sẽ đưa con đi.

Mặt ba nàng xị xuống.
-    Biết ngay mà! Thấy ông ta nói ở Chương Thiện lên là tao biết ngay có biến. Còn cái thằng chồng mày nữa. Dở dở, ương ương muốn làm quân tử Tàu. Mà quân tử Tàu thời nay thì chỉ có chết xác thôi con ạ! Tao chỉ nói với Ông Tướng một câu là Ổng đưa nó làm tùy viên cho Ổng. Tuần nào tụi tao chẳng xoa mạt chược? Khốn nỗi, cái thằng chồng mày bày đặt “kiếm chiệng” thành ra bây giờ mới khổ tao.

Phượng biết ba nàng có lý. Là một công chức cao cấp, quen biết lớn, thế lực nhiều, thì việc gì ông chẳng làm được? Nàng còn biết Ông Tướng vẫn đến nhà nàng chơi luôn, và nhìn trộm nàng như máy. Ông rất mê xoa mạt chược, và đặc biệt là Ông chơi thấp như… vịt. Bạn bè đặt cho Ông cái hỗn danh là “Thầy cúng.” Ông đánh lớn, thua lớn, đánh nhỏ, thua nhỏ, càng đánh càng thua, càng thua, càng đánh. May mắn thay, đánh đây là đánh bài, chứ đánh giặc thì đào đâu ra quân sĩ cho ông nướng! Phượng còn nhớ rõ trong một bữa ăn, Mai đã thẳng thắn từ chối sự giúp đỡ của ba nàng. Ông đã há miệng, trợn mắt lên vì ngạc nhiên đến cùng cực; Ông dằn mạnh ly rượu xuống bàn, rồi lên lầu. Sau đó là tiếng đóng cửa mạnh. Mai nói:
-    Quả đấm thôi sơn vào mặt anh thật khủng khiếp, chỉ có tình yêu của em mới giúp anh chịu đựng nổi cái đau đớn này.

Phượng phải vuốt ve, dịu dàng mãi, Mai mới nguôi. Bây giờ thì đến lượt Phượng vuốt ve ba nàng.
-    Thưa ba, con biết ba nói đúng. Nhưng thanh niên ai chẳng bồng bột, háo thắng? Đã lỡ thương xin ba thương cho trót. Ba cho phép con xuống với ảnh, con sẽ thuyết phục ảnh. Rồi ra giêng ba nhờ người ta chắc cũng không muộn.

Thấy con gái mình trình bày một cách khéo léo, ông cũng thấy xuôi tai.
-    Ừ, thì con đi đi. Xuống đó, liệu lời mà khuyên bảo nó. Rồi để ba lo. Con nhớ giữ mình.

Nói đoạn, ông xuống nhà, lái xe đi đánh bài. Phượng lo thu xếp quần áo và làm bánh cho chồng. Lúc đi qua phòng em nàng, cửa hé mở nên Phượng thấy chú Chín đã ngủ. Phượng thầm nghĩ.
-    Thật là một con người vô tư lự.

*   *
*

… “Tết nhất đến nơi rồi mà tụi nó đánh đấm kỹ quá. Mẹ kiếp, không biết tụi nó ăn cái giải rút gì mà cứ thích chui đầu vào cửa tử? Mấy cái tiền đồn đã bị tràn ngập, thiệt hại đôi bên đều nặng nề như nhau. Nghe nói có T.54 ở biên giới tràn qua. Bên ta đã bắn cháy được mấy chiếc. Và cái tờ giấy phép của mình cũng cháy luôn!” Mai nghĩ vậy. Anh những tưởng Tết năm nay sẽ phải tưng bừng lắm. Có cô vợ mới cưới, trẻ đẹp, dẫn đi bát phố thì còn gì “hách” cho bằng. Đêm Giao thừa, anh sẽ đưa Phượng đi xin xâm ở lăng Lê Văn Duyệt. Cứ tưởng tượng cái vẻ mặt trịnh trọng của nàng lúc nghe ông Thầy đoán quẻ, Mai đã thấy thích thú. Lời Thánh dạy được nàng tin một cách tuyệt đối. Sáng Mùng Một, anh sẽ bắt Phượng mặc chiếc áo xanh, vì “màu áo xanh là màu anh trót yêu…” Hai người sẽ đi chúc Tết họ hàng thân thuộc. Ấy thế mà bây giờ… Mai buồn bực đến thẫn thờ. Anh đem tâm sự đó giãi bày với chú Chín.
-    Có gì là khó giải quyết đâu, chú Hai? Nếu chú không về được với cô, thì cô xuống với chú, để vợ chồng có đôi.
-    Chú nói giỡn tôi sao, chú Chín? Đường đi khó khăn, cách trở, làm sao vợ tôi biết đường?
-    Thì chú ngời người dẫn.
-    Ai?
-    Tui!

Hôm được Trực thăng vận đến đây, Đại đội của Mai như bị bỏ rơi, lạc lõng. Dân cư chung quanh không có một ai. Đó là vùng “xôi đậu”, máy bay được oanh kích tự do, nên không ai dại dột gì đem thân vào chỗ chết. Nhưng từ từ an ninh được vãn hồi, binh sĩ tỏ ra có kỷ luật, nên dân chúng trở về lai rai. Chú Chín Kính là một trong những người trở về đầu tiên. Chú sống đơn độc với đưa con gái út. Nghe nói vợ con chú đã chết vì một trái bom oan nghiệt! Mai có nhiều cảm tình với chú Chín, vì chú thật thà, mộc mạc, lại ít nói. Nhưng khi chú nói thì nói đúng, nói thật. Lời nói của chú như đinh đóng cột. Ấy thế mà chú suýt bị một tai nạn lớn, một tai nạn mà người nông dân nào cũng thất đảm kinh hồn. Một hôm chú đang làm ruộng thì bỗng một Trực thăng xà xuống, ba quân nhân Mỹ hốt vội chú về Tỉnh với lý do là “Vi xi”.Con Út vừa mếu máo vừa nói với Mai:
-    Chú Hai ơi, lính Mỹ bắt ba con rồi!
-    Mai tức tốc mở máy liên lạc với Phòng Hai của Tiểu khu:
-    Tôi muốn nói chuyện với Đại Úy Trưởng Phòng Hai.
-    Người Hạ sĩ quan trực trả lời.
-    Thưa Thiếu Úy, Thẩm quyền tôi bận đi dự tiệc khoản đãi phái đoàn Thanh tra từ Bộ Tổng Tham Mưu xuống.

Mai cáu tiết.
-     Tiệc tùng với Thanh tra cái con mẹ gì? Anh nói lại với thẩm quyền của anh thả Ông Nguyễn văn Kính tự Chín Kính ra tức khắc. Tôi xác nhận ông ta là một nông dân cư ngụ trong vùng chúng tôi kiểm soát. Các anh làm ăn ẩu tả như vậy, dân chúng bỏ đi hết rồi chúng tôi ở với chó à?

Mai thấy mình nổi giạn một cách vô lý. Lỗi ở mấy ông “Cố vấn” chứ Phòng Hai có tội tình gì? Mai cười nhẹ. Lại thêm một cái vô lý của chiến tranh.
Đúng một tuần sau, chú Chín được trả tự do. Chỉ có bảy ngày để điều chỉnh giấy tờ, quả thật là một cố gắng phi thường đáng được ghi nhận! Hôm chú về, râu ria mọc lởm chởm. Da chú vốn đã sậm lại sậm hơn, đến nỗi Mai suýt nhận không ra. Mai hỏi.
-     Người ta đánh chú chưa?
Chưa chú Hai. Cũng may có chú can thiệp kịp. Nhưng nghe tiếng la hét phòng kế bên, cũng đủ làm tôi điếng hồn rồi. Cảm ơn chú Hai.
-     Ơn với nghĩa gì, chú Chín. Đó là bổn phận của tôi. Thôi đừng buồn chú Chín. Coi như chú được nghỉ ở nhà một tuần không phải làm ruộng.

Rồi Mai khôi hài:
-     Âu cũng là dịp may để chú được đi Trực thăng Mỹ lái! Khó mà có dịp thứ hai!
Chú Chín la lên.
-    Ý “chời!”, tui hổng ham đi “Chực thăng!”

*   *
*

Nếu có ai hỏi: “Con đường nào xấu nhất Việt Nam Cộng Hòa?” chắc chắn Phượng sẽ trả lời không suy nghĩ: “Con đường Cần Thơ – Chương Thiện!” Hồi còn đi học, Phượng đã có lần đáp xe lửa từ Đà lạt đến Krongpha, rồi đi xe hơi của bạn về đến Tour Chàm. Gớm, sao mà nó xấu thế! Vừa quanh co, khúc khuỷu vừa đầy dẫy ổ gà. Đó là chưa kể cát bụi bay mịt mù trời đất. Nàng cứ tưởng nó xấu vô địch. Nhưng chưa thấm vào đâu, nếu đem so với con đường này. Ngoài những đặc tính trên, nó còn có những ổ… trâu, do mìn gây ra. Thỉnh thoảng, có một vài người võ trang xin quá giang. Những người này có thể là phe ta, cũng có thể là phe địch. Đường dài không quá bảy mươi cây số, mà xe phải chạy gần bốn tiếng đồng hồ!

Phượng được anh quân nhân nhường chỗ, nên cũng đỡ vất vả. Ngồi kế bên nàng là một người Tàu, cứ nhìn mặt thì biết, béo phệ. Cái thắt lưng bằng da củ kỹ như muốn bứt tung ra vì cái bụng vĩ đại. Ông ta chiếm đến hai chỗ. Phượng thầm nghĩ, “Ông này phải mua đến hai vé mới hợp lý.” Mặc cho xe lắc lư, ông vẫn ngủ mê mệt. Một giọt dãi sắp rớt khỏi cặp môi hơi dầy. Phượng suýt bật cười thành tiếng khi nhớ lại câu chuyện tiếu lâm do Thái kể: “Em ngồi cạnh một chú chệt mập thù lù. Nhìn cái thùng nước lèo của ông ấy mà phát ngán”. Em nói:

  • Ông cứ nhúc nhích hoài thì làm sao tôi ngủ?
  • Hày à! cái lỵ lày lói mới kỳ! Ngộ “dút dít” bao giờ? Ngộ thở đấy chớ. Cái lỵ cấm ngộ thở à?

Bây giờ Thái đã nhập ngũ. Trung trực, thẳng thắn như nó không khéo lại giống Mai bị đẩy đi xa cho mà coi. Nó ghét chạy chọt lắm. Theo nó, cái “đức tính” xin xỏ, hách xì xằng của ba nàng, kết tinh của tám mươi năm Tây đô hộ, cần phải được khai trừ càng sớm càng tốt! Chồng nàng cũng nghĩ vậy. “Kỳ này về, mình phải vô Thủ Đức thăm cu cậu mới được. Mình sẽ dẫn con Lan theo. Nhìn thấy bồ chắc cu cậu mừng húm.”

Chú Chín vẫn đứng, hai tay chú nắm chặt lấy thành vịn. Chú nhìn thẳng về phía trước và không nói tiếng nào. Phượng lơ đãng đọc một bảng gỗ cắm bên đường:
“Nơi đây Việt cộng đã giật mìn một chiếc xe đò, sát hại 13 người, làm bị thương 20 người --- 1--11--72”
Một quãng sau đó, lại có bảng khác:
Mặc ai nói ngược nói xuôi
Đi bầu Quốc Hội là điều ta mong.

Lần này thì Phượng bật cười thành tiếng. Bớ Ông Tổng Trưởng Thông Tin và Dân Vận! Bớ quý vị trong giới hữu trách! Bớ bà con cô bác! Người ta đã trắng trợn hiếp dâm văn chương Việt Nam đây này! Câu thơ trên đã chửi vào mặt mọi người! Phượng nghĩ tác giả phải là một cao thủ trong giới võ lâm, phải có một nội lực uyên bác mới có thể xuất ra một chưởng kinh hồn như vậy.

Đi khỏi Cái Tắc độ hơn một tiếng đồng hồ, người tài xế nói lớn:
-     Mời quý vị xuống xe. Chỗ này lầy quá, xe qua không nổi. Các thanh niên vui lòng đẩy giúp một tay.

Phượng lo lắng hỏi chú Chín:
-     Có sao không chú?
-     Không sao đâu cô Hai. Tui đã tính cả rồi!

“Tui đã tính cả rồi?” Phượng mang máng câu này ở đâu? À! phải rồi. Ông Phileas Fogg, một nhà quí phái người Anh cát Lợi, đã đánh cá cùng các bạn bè là Ông có thể đi Vòng Quanh Thế Giới Trong 80 Ngày (*). Trên lộ trình, Ông đã gặp nhiều trở ngại như mọi Da Đỏ bóc đường rầy xe lửa, quân cướp tấn công đoàn công voa, bão tuyết v.v… Mỗi lần gặp trục trặc, Catinflas, người đầy tớ lo lắng hỏi, và Ông đều bình tĩnh trả lời: “Tôi đã tính cả rồi!” Ai dám nói chú Chín không biết tính toán, lo xa như nhà quí phái người Anh? Phượng nhìn chú với đôi mắt khâm phục.

Mặt trời sắp lặn thì con bò già cũng vừa lết tới bến. Một mùi hôi tanh nồng nặc xông lên. Phượng kín đáo lấy khăn tay bịt mũi. Chú Chín giảng nghĩa.
-     Chợ cá nằm ngay bến xe, dân ở đây khiếu nại mãi mà ông Tỉnh vẫn chưa cho dời chỗ khác. Thôi mình xuống đò về Cô, kẻo ổng mong tội nghiệp!

Chiếc Cô-le 10 (Kohler) của chú Chín thật tốt. Chú mới giật có một cái đã nổ.
-     Tui cưng nó lắm, cô Hai à. Nó là cái chân của tui. Tuần nào tui cũng ra Tỉnh, tuần nào chú Hai cũng nhờ tui gởi thơ, mua “nhụt chình”, hoặc lâu lâu mua “măng đa” gởi về cho cô. Ổng ghiền “nhựt chình” một cách chi lạ.

Con đò chở có hai người, nên lướt nhanh trên mặt nước. Từng đàn cò trắng bay về nơi chân trời xa thẳm. Lác đác đâu đó một vài chú mục đồng dắt trâu về chuồng. Phượng thấy hơilạnh. Nàng mặc thêm chiếc áo len. Nàng tự cảm thấy mình hơi liều. Thật đúng với câu: “Thương nhau trăm sông cũng lội, ngàn đèo cũng qua”.Tết này nữa là Phượng tròn hai mươi tuổi. Hai mươi tuổi có con liệu có sớm quá không? Nàng tự hỏi. Rồi nàng tính đốt ngón tay. Mình “có” hai tuần trước. Ừ nhỉ, kỳ này về, mình dám có “bêbê” lắm! Nghĩ tới đó Phượng thấy mặt mình nóng ran. Nàng liếc nhìn chú Chín, sợ chú đọc được ý nghĩ trong đầu nàng. Có lần Mai giảng cho nàng nghe thế nào là “Tân thú bất như viễn quy”.
-     Các cụ ta thật thâm thúy. Lời các cụ phán ra – nhất là vấn đề “ấy” – chính xác như một công thức toán học!

Mai cãi ngay.
-     Các cụ nào dạy chuyện tầm bậy thế? Anh phịa ra thì có.
-     Anh phịa ra hồi nào? Sách vở đàng hoàng!
-     Sách nào?
-     Ai mà biết? Tứ thư, Ngũ kinh, Tam tự kinh, nhớ chi cho mệt óc. Quan trọng là ở cái nghĩa của nó. Trong đêm tân hôn, cô dâu chú rể thiếu kinh nghiệm, lụp chụp, không làm nên trò trống gì. Họ làm hư bột hư đường hết trơn. Có hấp dẫn họa may là những cặp cứ lâu ngày mới gặp lại. Họ bình tĩnh, họ xông xáo, họ…

Phượng phải lấy tay bịt miệng anh lại, anh mới thôi nói. Mai làm nàng ngượng chín cả người. Chuyện chăn gối ai  lại đem ra giữa thanh thiên bạch nhật “bình văn” bao giờ!
-     Đồn tên gì, chú Chín?

Chú Chín trả lời cộc lốc.
-     Đồn Thanh Long.

Tên hay quá, Phượng nghĩ bụng, “ Nếu là con trai, mình sẽ đặt tên này. Nếu là con gái, mình cho ảnh trọn quyền đặt. » Vừa qua khỏi khúc quanh lớn thì đã thấy thấp thoáng đồn. Chú Chín la lên.
-     Ủa! Có người bị thương!

Tim nàng đập mạnh.
-     Sao chú biết?
-    Kìa! lựu đạn khói xin tải thương.

Từ đó, hai người không ai bảo ai đều giữ im lặng. Đò vừa cặp bến, chú Chín vội nhảy lên bờ, rồi đưa tay kéo Phượng lên sau. Ông Thượng sĩ Thường vụ nói ngay:
-     Ông nóng lòng đón Cô, nên đã ra ngoài đầu “doi” kia đợi, thường ngày nơi đó rất an toàn, ai dè hôm nay ổng bị bắn sẻ.

Chú Chín hỏi.
-     Nặng không?

Ông Thượng sĩ ngập ngừng không trả lời. Các binh sĩ đứng quanh chiếc “băng ca” dãn ra, nhường chỗ cho Phượng lách mình vào. Mai nằm đó, chiếc áo treillis ướt đẫm máu. Phượng quỳ xuống mếu máo:
-     Anh! có sao không anh?
-     Phượng em…

Mai cố nhếch mép cười, tay anh tìm tay Phượng. Anh thều thào:
-     Anh lại hứa cuội! Tha… lỗi… cho… anh.
-     Mai từ từ nhắm mắt lại. Xa xa trên những ngọn dừa, một chiếc Trực thăng tải thương đang bay nhanh tới…

 

(*)   Cuốn sách này đã được học giả Hà Mai Anh dịch thuật từ cuốn “Autour du monde en 80 jours” của Jules Verne.

Trở lại Đầu Trang