Trang Web Hướng Dương Txđ


Trở Về Trang Chính

Đi Thăm Asklepion và Ephesus, Thổ Nhĩ Kỳ
Bài của Hướng Dương txđ



Sau Acropolis chúng tôi lên xe đi tới Thành Asklepion cũng ở ngay Bergama. Nếu không đi theo tour, từ trung tâm thị trấn Bergama, du khách có thể tản bộ 15 phút - có 1 mile thôi - về hướng Tây để tới cổ thành Asklepion, nằm ở bên cạnh một trại quân lính - Cấm chụp hình trại này – và phải mua vé vào cửa mất 15 Lira Thổ Nhĩ Kỳ. 7 giờ chiều thì Asklepion đóng cửa.

Xe chạy chưa đầy 10 phút thì đã tới nơi. Người hướng dẫn nhắc lại rằng chúng tôi sẽ phải đi qua một trại binh lính và không được đưa máy hình lên chụp. Xe đậu bên vệ đường hai bên là đồng không mông quanh. Chúng tôi vội vã xuống xe đi vào một con đường đất trông trong một vùng hoang vắng, bên một hàng rào. Chúng tôi đoán chừng phiá bên kia là trâi lính anh tour guide đã nói nhưng chẳng thấy bóng dáng anh lính Thổ nào hết. Nhìn xa xa quả nhiên thấy có con đường đất đỏ có cột điện có lẽ đó  là một con lộ cho xe nhà binh chạy. Lâu lại thấy có bóng cây. Hôm đó là một ngày đẹp trời có nắng ấm mặc dù tháng 11 bên Thổ Nhĩ Kỳ trời đã lành lạnh như thể thời tiết San Francisco. Mọi người trong đoàn hình như đang hồi hôp vì đi qua một vùng có sự kiểm soát của nhà binh hay sao đó nên không thấy ai cười nói to. Chúng tôi đi chừng vài trăm thước thì vào tới vùng đất đá xanh sỏi cát và hai bên là những đoạn cột ngắn bầy dựng đứng, những tảng đá to xưa kia dùng để xây cổ thành rải rác nằm bên vệ đường xung quanh có có xanh mọc. Càng đi sâu vào bên con đường càng sạch sẽ hơn có càng nhiều cột to cao đẹp hơn xen lẫn vô số những mảnh cột, những hủ đá, những mảnh đá xây tường bầy thành hàng trông khá đẹp mắt hấp dẫn du khách, nhưng chưa thấy gì to lớn, oai nghi hết.

Đi chút nữa con đường chẻ đôi, đấy là con đường dài ngày xưa có lát đá tảng hai bên có những cột đá dài 807 mét mang tên Con Đường Thần Thánh (Sacred Way) - con đường này xưa kia nối liền Asklepion với Acropolis - du khách tới một sân rộng có một cổng thành to lớn (Propylaeum) nay đã xụp đổ. Chẳng bao lâu thì tới một sân khá rộng giữa có một phông ten (ụ xây có vòi nước), chỗ này là cái thềm đi vào bên trong, cả một vùng rộng lớn những tàn tích của cổ thành Asklepion. Tại cái sân này có một bàn thờ theo sách vở nói chân – chúng tôi đâu có biết trước để mà mò tìm xem – có dấu hiệu con rắn tiêu biểu cho ngành y tế, một dấu hiệu cho đến ngày nay vẫn

được dùng. Bên tay mặt là căn Phòng dành cho Hoàng Đế (Emperor’s Room) tới nằm khi ông ta chẳng may ngả bệnh, căn phòng này cũng còn là một thư viện .

Từ đây có những con đường dẫn tới xa mút chỉ là những hàng cột cao của một toà nhà to lớn thời xưa, những mảnh tường còn đứng dựng nhìn gần làm bằng những tảng đá to lớn khủng khiếp chồng chất lên nhau, và nhất là cái hý viện xây cũng bằng đá trên sườn đồi, chỉ thấy những dẫy ghế chạy dài thành vòng cung tựa như một sân banh thời nay. Thế là cả đoàn chúng tôi toả ra đi ngó đi nhìn đi tìm hiểu và nhất là đi chụp hình.

Nói về “Asklepion”

Asklepion tại Bergama đã được một người tên Archias xây lên vào thế kỷ thứ 4 BC để vinh danh Aesculapius là Thần Sức Khỏe và Y Học - thời Hy Lạp và La Mã cổ xưa danh từ “asclepeion” hay “asklepeion” có nghiã là một đền chữa trị cho bệnh nhân (healing temple). Aesculapius đã được tôn thờ trước tiên tại Trikka sau đó là tại Epidaurus từ khoảng những năm 400 BC. Tại Acropolis ở Athens cũng có một asklepion có từ khàng năm 420 BC. Từ 350 BC asklepion được xây dựng khắp nơi, những benh nhân đừng đoàn tới những asklepion để xin được chữa bệnh. Họ ngủ qua đem rồi qua sáng hôm sau kể lại giấc mơ của họ cho những vị “thầy” (priest). Họ thường được chữa trị bằng cách đi tắm hay đi tập tại một phòng tập. Rắn là con vật thiêng liêng đối với Aesculapius nên ông thường dùng răn trong những buổi lễ trị bệnh (healing rituals) và những con rắn lành thường được thả cho ngủ chung với bệnh nhân trong cùng phòng. Người ta nói rằng ngay Hippocrates (cha tổ của ngành Y khoa) ngày xưa cũng đã thụ huấn tại một asklepion trên hòn đảo Kos gần Pergamum trước khi ông trở thành người y sĩ riêng của Hoàng Đế La Mã Marcus Aurelius.

Tại Asklepion ở Bergama – nói cho rõ vì có nhiều asklepion ở khắp nơi - có một hí viện cho 3500 người, vô số những phòng ốc nơi chữa trị bệnh nhân bằng tiếng nước chảy và bằng nhạc, một đền thờ và một thư viện. Tại Aklepion người ta nghiên cứu những giấc mơ của bệnh nhân để tìm hiểu nhân cách con người – 2000 trước khi có ngành phân tâm học do Freud đưa ra. Galen một vật lý và triết gia đồng thời là một bác sĩ nổi tiếng đã từng đi thụ huấn tại Hy Lạp và Ai Cập (Alexandria) đã sinh ra tại Pergamom vào năm 129 AD sau này ông đã tới tu luyện nơi đây và trở thành huấn luyện viên và người chăm sóc sức khỏe cho những võ sĩ được luyện để đấu với nhau hay với thú vật (gladiators).

Những nhà khảo cổ đã đào lên được nhiều tặng phẩm như những đồ nặn những bộ phận cơ thể bằng đất nung cũng như những bài văn viết đề tặng các bác sĩ.của bệnh nhân đã được chữa lành. Trong số những phương cách chữa trị có Tâm thần trị liệu, xoa nắn (massage), trị liệu bằng cây thuốc (herbal remedies), đắp bùn và trầm mình dưới nước để chữa chạy, tìm ý nghĩa của những cơn mê sảng để chữa bệnh, và uống nước để chữa bệnh. Bệnh nhân nào cũng muốn được vào chữa trị tại Asklepion kể cả những người nổi tiếng như các Hoàng Đế Hadrian, Marcus Aurelius và Caracalla.

Đến thăm Asklepion du khách sẽ thấy

  1. Đền Asklepios với một mái bán cầu bề ngang 23 m trông tựa như đền Pantheon ở La Mã có một con đường hầm đưa tới một đền khác tên Đền Telesphorus trong đó có những phòng chữa trị bệnh nhân và những phòng cho bệnh nhân ngủ - chứng tỏ rằng ngủ là một phương thuốc trị bệnh tại nơi đây.
  2. Ngay giữa cổ thành có ba hồ bơi dùng để trầm mình và hồ nước dùng để uống - trầm mình dưới nước và uống nước là phương thức trị liệu thứ hai tại nơi đây.
  3. Một dãy 17 cột cao dẫn tới thư viện và hí viện La Mã có hình vòng cung – hí viện này đã được sắp xếp lại trên sườn đồi cho giống ngày xưa – nơi đây trong những ngày hội của thành phố Bergama người ta tổ chức những buổi trình diễn các vở kịch cổ điển

Chúng tôi đã ở xem Aslepion khoảng hơn một tiếng đồng hồ. 11 giờ sáng chúng tôi lên xe đi ăn trưa ờ một hotel đẹp mới xây cất, thứ ăn ngon. Ăn xong 12:15 chúng tôi lại lên xe đi thăm Ephesus ở thị trấn Selçuk. Từ Bergama đi  Selçuk/Ephesus mất 2 tiếng rưỡi, đi trên xa lộ İzmir Çanakkale Yolu/D550/E87 một khoàn dài 175 cây số - trong các bài tường trình chúng tôi hay nói thêm rõ những chi tiết về cách đi, đi bao xa, tốn bao nhiêu tiền hầu giúp du khách nào tự đi có chút ý niệm - Nếu không đi tour du khách có thể đi xe bus ngay từ Çanakkale đi Ephesus – hãng xe Truva Bus - mất 32 Euros tương đương với $50.00. http://www.truvaturizm.com/ (Nhờ bấm translate để có chỉ dẫn mua vé theo tuyến đường bằng tiếng Anh.

2:45 trưa thì chiếc xe bus chở cả đoàn chúng tôi tới địa điểm có cồ thành Ephesus . Người ta đã khám phá cổ thành Ephesus tại thị trấn Selçuk thuộc tỉnh Izmir. Kusadasi cách đó 19 cây số là nơi chúng tôi sẽ đến ngủ qua đêm còn Bải biển Pamucak thì cách đó có 5 cây số. Ngày xưa Ephesus ở ngay bên bờ Biển Aegea nhưng vì có phù sa đắp biển nên bây giờ Ephesus mới xa bờ biển như thế. Vào thời đế quốc La Mã, Ephesus nằm trên sườn phía Bắc của hai ngọn đồi Coressus và

Pion, ở phía Nam của con sông Cayster, ngày nay là sông Kucuk Menderes, con sông đã mang phù sa đắp biển. Ngày xưa có một sông đào nối liền biển với một hải cảng nằm ở xa phía Tây ngọn đồi Pion nhưng tới thời đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ thì con kênh này đã hết xài được.

Ephesus ngày xưa là một thành phố Hy Lạp sau đó là một thành phố lớn trong thời kỳ đế quốc La Mã. Ephesus là một trong 12 thành phố lớn tại Tiểu Á trực thuộc đế quốc Hy Lạp (Ionian lLague) vào thế kỷ thứ 7 BC. Vào thời kỳ La Mã, Ephesus là lớn thứ tư trong vùng Địa Trung Hải với dân số lên tới 250,000 người (thế kỷ 1 BC) - chỉ sau Rome, Alexandria và An Antioch.
Cho đến nay các nhà khảo cổ chỉ mới đào được có 15% những tàn tích (ruins) của thành Ephesus. Cái mà du khách đến coi là Ephesus V nằm ở vùng Selcuk còn những Ephesus khác là:

  • Ephesus I nằm ở vùng Aya Suluk
  • Ephesus II nằm ở vùng Artemission
  • Ephesus III nằm ở vùng Port of Saint Paul ở chân núi Koresso
  • Ephesus IV nằm ở phiá Bắc của vùng Aya Suluk

Trong số 5 Ephesus nói trên Ephesus III lớn nhất và là nơi mà các Thánh Paul và John đã sinh sống ở đó. Sở dĩ Ephesus bị phân tán ra thành năm vùng như vậy là vì nhựng tàn tích chon dưới đất đã bị di chuyển do sự chuyển động của mặt đất với thời gian.

Ephesus là nơi chứa nhiều tàn tích của thời La Mã nhất tại khu vực Đông Địa trung Hải. Những tàn tích mà du khách thấy được cũng đủ để chúng tỏ rằng Thành phố Ephesus thời xưa phồn thịnh và lớn đẹp như thế nào. Tại Ephesus có có Đền Thờ Artemis xây xong năm 550 BC, uy nghi, được coi như là “một trong bẩy kỳ quan của thế giới xa xưa” (Seven Wonders of the Ancient World) – cùng với Kim Tự Tháp Lớn ở Giza, Khu Vườn Treo ở Balylon, Tượng Zeus ở Olympia, Ngôi Mộ ở Halicarnassus, Người Khổng Lồ ở Rhodes và Ngọn hải Đăng ở Alexandria. Hoàng Đế Constantine I đã cho xây lại gần hết thành phố và cho mở thêm nhiều nhà tắm công cộng. Ephesus là một trong bẩy nhà thờ lớn ở Tiểu Á đã được ghi lại trong Cuốn Sách Khải Huyền (Book of Revelation) cuốn cuối cùng của bộ Kinh Tân Ước. Tại Ephesus có nhiều môi mộ của các võ sỉ đấu vật (gladiators). Ephesus đã là nơi trú ấn của bẩy người được đạo Thiên Chúa coi là Thánh bởi họ đã bị hành hạ vì đã tin ở Thượng Đế. Họ đã suốt trong bao nhiêu năm ngủ trong một hang đá tại Ephesus.
Ephesus đã bị tàn phá một phần trong cuộc động đất năm 614AD.

Có gì tại Ephesus cho du khách coi?

Thư Viện Celsus, ngày nay chỉ còn phần bề mặt phía trước do người ta dựng lại dùng những cột và tảng đá đào được từ lòng đất. Thư viện này đã được xây năm 125 AD đê tuởng nhớ Tiberius Julius Celsus Polemaeanus, một người Hy Lạp đã làm Thống Đốc của vùng Á Châu thuộc Đế quốc La Mã. Celsus đã bỏ tiền túi ra xây thư viện này và đã được chôn trong một áo quan bằng đá (sarcophagus) ngay trong thư viện. Chính Gaius Julius Aquila là con của Celsus đã xây thư viện này, nơi đã từng chứa 12000 sách cuộn (scroll). Thư viện này có một lối vào to lớn khác thường và các phòng đọc đều hướng Đông để có được nhiều ánh sáng vào buổi sáng.

Đền Thờ Artemis, được coi là một trong bẩy kỳ quan của thế giới cổ xưa, nay chỉ còn một cột do Viện Bảo tàng Anh Quốc đào lên vào những năm 1870 và phải tìm hiểu mãi mới nhận ra. (có lẽ những cột khác là cột bầy cho có – xem hình) Nhiều phần của những cột khác thuộc đền này đã được mang sang Luân Đôn, một số khác còn lại nay được triển lãm ở Viện Bảo Tàng đồ khảo cổ tại Istanbul.

Đền Thờ Hadrian, có từ thế kỷ thứ hai nhưng đã được sửa sang lại vào thế kỷ thứ tư, nay chỉ còn một phần được dựng lại dùng những bộ phận đào được. Những mặt nổi (reliefs) thấy được trên cao giờ chỉ là đồ giả, những mảnh thật nay bầy ở Viện bảo tàng Khảo cổ ở Ephesus. Những hình tượng đáng kể là hình tưọng Hoàng Đế Theodosius I cùng với vợ và đứa con trai.

            Library of celcus                                                                       Temple of Artemis                                                  Temple of Hadian
Tòa Nhà Odeon
M
ột nhà hát có mái - tức là không phải ngoài trời như những hý viện thông thường khác thời xưa – do Vedius Antonius và bà vợ cho xây khoảng năm 150 AD. Nơi đây là một phòng để mọi người thưởng lãm những vở kịch hay những buổi hòa nhạc với 1500 chỗ ngồi mà

thôi. Có tất cả 22 bực thềm và trần nhà được những cột đá hoa cương màu đỏ chống đỡ. Muốn vào trong nhà hát phải leo những bực đá.

Đền Thờ Domitian
Một trong những đền lớn nhất của Thành Ephesus được xây theo lược đồ pseudodipteral (lối Hy Lạp) với 8X13 cột lớn. Ngày nay chỉ còn lại hai cột lớn và vài bức tượng. Đền này đã được dùng để vinh danh một hoàng đế La Mã lúc ông này còn sống - du khách có thể thấy cái đầu to tướng của hoàng đế Domitian trưng bầy tại bảo tàng viện khảo cổ ở Izmir. Ngày xưa trước đền có một bức tượng khổng lồ của vi hoàng đế này


lược đồ pseudodipteral

Đại Hý Viện/Sân Vận Động Ephesus

Có thể chứa 24000 khán giả, nó được coi như là hý viên ngoài trời lớn nhất thời xưa. Nó nằm ở phía Nam của Nhà Tập Thể Thao Vedius (Vedius Gymnasium). Khán giả ngồi trên sườn ngọn đồi Pion (Panayirdag) để coi. Muốn vào hý viện phải qua một cái cổng vĩ đại ở phía Tây được xây lại dưới dời hoàng đế Nero ( thế kỷ 1 AD). Đại Hý viện được xây lên trong thời kỳ Đế Quốc Hy lạp để dùng trong những lễ hội và những sinh hoạt thể thao mà thôi. Sau này tới thời đế quốc La Mã nơi đây là chỗ để các lực sĩ đấu vật (gladiators) đấu nhau hay đấu với các thú dữ (thế kỷ thứ 2 và 4). Những gia đình quan lớn như gia đình Vedius thường có trường dạy đấu riêng (gladiator school). Thời đó những người theo đạo Thiên Chúa thường hay bị thả cho những con sư tử giết chết tại hý viện này. Sau này đến năm 413 AD, đạo Thiên Chúa được thừa nhận và người ta đã xây dựng một kỳ đải lớn mang tên là Cổng Đàn Áp (Persecution Gate) để tượng trưng cho những người đã bị đẩy tới cái chết do Sư Tử vờn và cắn.

Bồn Nước Pollio (Fountain of Pollio)

Bồn nước này cũng chứa ngay phiá dưới lòng đất ngôi mộ của Pollio. Nó đã được Offilius Proculus xây lên để tôn vinh C. Sextilius Pollio là người đã xây cây cầu dẫn nước Mamas (Mamas Aqueduct). Mặt trước của kỳ đài này có hình cong vào. Tại Ephesus có hai công trường lớn (agora), một để buôn bán làm ăn, cái thứ hai để cho những sinh hoạt công. Bồn nước Pollio nằm ở phiá Nam của Công Trường Nhà Nước (state agora) đối diện với hý viện Odeon. Nó đã được một người giầu có tên Ephesian C. S. Pollio và gia đình của ông này xây lên vào năm 97 AD.

                   Trajan Fountain                                                                 Scholastica baths                                                                various baths

                Fountain of Polio                                                                                                            Hai hình này chụp nơi mô không biết tên

http://www.ephesus.us  

Chúng tôi ở lại Ephesus cho tới 4 giờ chiều thì lên xe đi khoảng 20 phút tới thăm căn nhà ngày xưa Đức Mẹ Maria đã sống tại nơi đó cho đến khi Đức Mẹ qua đời. Căn nhà này ở trên đỉnh một ngọn đồi cao, muốn lên tới nơi chiếc xe bus khổng lồ phải leo dốc, chạy men những vực thẳm, những con đường núi nhỏ xíu chỉ vừa đủ cho hai xe tránh nhau, Ngồi trên xe tôi sợ muốn chết, nhất là lúc xe trở xuống, nhìn những vực thẳm bên đường tôi chỉ sợ lỡ xẩy tay, chiếc xe lao xuống dưới đó là xong đời cả đám. Tim tôi đập nhanh gấp hai ba lần bình thường, tôi nhịn thở, hoa mắt khi thấy chiếc xe lảo đảo, chao qua chao lại để tránh những chiếc xe đang đi lên trong khi chúng tôi đang đi xuống tức là đi bên phía có vực ngay cạnh đường.

Căn Nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh (House of Virgin Mary):

Căn nhà Đức Mẹ Đồng Trinh (House of the Virgin – Meryemana) nằm trong một công viên thiên nhiên ở trên con đường đi từ Seljuk tới Ephesus. Chúng tôi đi xe khoảng 30 phút thì tới nơi, sở dĩ lâu là vì xe chạy chậm hơn bình thương nhất là lúc leo đèo. Lúc tới nơi thì trời đã xâm xẩm tối, xe qua một cổng xét vé rồi chạy tới đậu ở một sân đậu xe và chúng tôi phải cuốc bộ lên một con đường dốc cũng tới ba bốn trăm mét. Đường đi rất sách sẽ tráng xi măng và lót đá, có tiệm uống nước và bán đồ kỷ niệm, đi tới nữa chúng tôi qua một cái sân lót đá nơi đây có một cái trông tựa như hồ nước hình cái lỗ ổ khóa, không to lắm nhưng cũng không nhỏ, khô cạn. Tôi dương máy lên chụp tấm hình kỷ niệm. Gần đến căn nhà thì con đường chia ra làm đôi, một con đường đi lên tới thẳng căn nhà, con đường đi xuống hơi vòng sang một phía bên phải, xung quanh cây cối xum xuê rừng. Trên đường đi lên ở một ngã ba thì phải vì có một con đường khác dẫn

đi đâu tôi không biết, trên bức tường đá có tượng Đức Mẹ bằng đồng không lớn lắm nhưng thật đẹp, ai cũng dùng lại chiêm ngưỡng. Tôi đưa máy hình lên chụp cái tích nhưng rất tiếc trời đã xâm xẩm tối, không có đủ ánh sáng để có được một bức hình đẹp. Trước khi tới sân trước cửa căn nhà của Đức Mẹ, một căn nhà không lớn hơn một gara ba xe của nhà giàu bao nhiêu - tôi thấy một nơi có mái che, có ghế cho những người tới ngồi cầu nguyện. Tôi không có lại gần nhưng tôi biết chắc là vì đó là một phòng nguyện ở ngoài trời nên tất nhiên có bàn thờ có thắp nến và có tượng Đức Mẹ. Đi thêm chừng 30 mét nữa trên con đường trải xi măng thì tới  một cái sân rộng bao quanh căn nhà. Có một cửa nhỏ đi vào một phòng con trước khi vào một căn phòng lớn hơn nhưng cũng không to gì hơn là một phòng khách của một căn nhà bình thường dùng làm phòng nguyện.

Hôm chúng tôi đến viếng không có bao nhiêu du khách – có lẽ vì đã cuối ngày, chỉ còn chừng ½ giờ nữa là đóng cửa - nên không phải xếp hàng chờ đợi. Tôi vàobên trong, cảm thấy không khi trang nghiêm của một nơi thờ phượng, không ai được nói chuyện, không ai được chụp ảnh quay phim, đi vào từng người xem cho qua rồi đi qua một căn phòng nhỏ khác bên hông để đi ra ngoài sân. Trong phòng thờ Đức Mẹ Maria cũng chỉ đơn giản có một cái bàn trải khăn trắng với hai lọ có cắm hoa. Có một bàn thờ xây sâu vào bên trong tường, thành hình bán nguyệt, với bốn cây nến và trên tường là bức hình Chúa và Đức Mẹ. Trong phòng bên có một tủ kính và hình Đức Thánh Cha chụo lúc ngài đến thăm căn nhà này cùng những lời ghi.

Ra ngoài sân có tượng Đức Mẹ, có một cái bàn lồng kính đó những cây đèn cầy do những người hành hương đốt và còn cái gì nữa thì giờ tôi không nhớ….


               Entrance fee booth                                                                    cistern                                                                                outdoor mass area


              House of Mary                                                                            altar (photo from Internet)                                              Outside the House

Ra về người ta phải bước xuống những bực thang đá đi dọc theo con đường một bên là rừng cây bên kia là nơi có vòi nước suối chảy từ trên núi xuống để rửa mặt hay uống tôi không biết và có chỗ để ghim những lời du khách mong ước và xin được Đức Mẹ ban cho. Nơi đây có nhà tiêu tiểu công cộng. Trên đường xuống đi qua một căn nhà nhỏ có anh lính Thổ bận nón đỏ chói, tay cầm súng canh gác cái gì tôi không biết.

Tìm Hiểu thêm về Căn Nhà của Đức Mẹ Đồng Trinh:

Theo lời truyền lại thì Đức Mẹ Maria đã được Tông Đồ John (Apostle John) đưa tới Ephesus sống sau ngày phục sinh của Đức Chúa Giêsu bới vì chính Chúa Giêsu đã nhớ Thánh John lo lắng săn sóc bà. Căn nhà nơi người ta nói Đức Mẹ đã từng ở cho đến khi chết được các nhà khảo cổ xác định là căn nhà đã được xây vào thế kỷ thứ 6 hay thứ 7 gì đó nhưng nền móng nhà thì xưa hơn và có thể đã có từ thế kỷ thứ nhất. Căn nhà này từ lâu lằm đã là nơi hành hương của những người Thổ theo đạo Thiên Chúa Chính Thống.

                          Candlelight table                                                                   Stairs to go down to exit alley                                             spring water fountain

Lạ lùng thay, căn nhà này do một nũ tu sĩ người Đức tên Sơ Anne Catherine Emmerich “khám phá” ra vào năm 1812 mặc dù Sơ chưa bao giờ ra khỏi nhà. Sơ Emmerich tàn tật nên suốt ngày chỉ nằm trên giường và một hôm Sơ bỗng tỉnh dậy hốt hoảng nói rằng Sơ thất Đức Mẹ Maria đi cùng với Tông Đồ John từ Jerusalem tới Ephesus. Sơ Emmerich tả căn nhà với đầy đủ chi tiết và một người có tên là Brentano đã ghi chép những lời kể lại của Sơ Emmerich như sau: đó là một căn nhà hình chữ nhật bằng đá mà Thánh John đã xây cho Đức Mẹ. Căn nhà có một lò sưởi, một chỗ tụng niệm và một tường bên trong hình tròn. Bên cạnh chỗ tụng niệm là phòng ngủ của Đức Mẹ, nơi đây có một con suối chạy tới. Người ta đồn rằng nước con suối này có phép lạ, nó có thể chữa được nhiều căn bệnh bất trị và trong căn phòng có nhiều cây gậy chống và nạng của những người què quặt đã được chữa khỏi bệnh nhờ uống nước con suối này và họ đã bỏ lại nơi đây.

Sơ Emmerich còn nói Đức Mẹ Maria chết lúc 64 tuổi và đã được chôn cất trong một cái hang đá gần căn nhà. Nhưng khi người ta mở chiếc áo quan ra thì thấy nó trống không. Căn nhà biến thành một giáo đường nhỏ. Sơ Emmerich cảnh mộng như thế thì nhiều năm sau, một thày tu người Pháp có tên Gouyet đã đọc những lời ghi chép của Brentano và đi tới Ephesus để tìm căn nhà của Đức Mẹ Maria. Quả nhiên ông ta thấy căn nhà giống những lời đà ghi, ông bèn viết thư cho các vị giám mục ở Paris và Roma nhưng không được trả lời. Mãi tới ngày 27 tháng 6 năm 1891, hai cha dòng St Lazare và hai viên chức Công giáo Đoàn mới đi Ephesus để xem căn nhà thì thấy nó đồ nát và chỉ có một tượng Đức Mẹ không còn nguyên vẹn. Họ về Izmir trình báo lại . Nhiều cha và những chuyên viên đả trở lại đó để sửa sang lại. Năm 1893 có một đòan hành hương tới viếng nơi đây và tời năm 1897 căn nhà chính thức trở thành nột nơi cho du khách tới viếng thăm. Nhiều Đức Thánh Cha (popes) – Paul VI and John Paul II và Benedict XVI - đã tới viếng căn nhà này. Nhà nguyện này hiện vẫn đo các cha dòng St Lazare quản trị  và lo làm lễ mỗi ngày.

Tạm kết:

Tường ghim những lời cầu xin của du khách

Chiếc bus chở chúng tôi “xuống núi”, như nói ở trên, tôi bị một phiên “hồn vía lên mây”, tôi bèn cầu xin Đức Mẹ Maria cho chúng tôi xuống tới chân núi an toàn. Quả nhiên không có chuyện gì xẩy ra –thì tôi mới còn ngồi đây viết bản tường trình này cho các bạn đọc – chúng tôi ghé tiệm bán kẹo có tên là “Turkish delight” (món khoái khẩu của dân tộc Thổ) chừng 20 phút sau đó xe chạy đi 20 phút đến khách sạn nơi chúng tôi sẽ qua đêm. Đây là một resort mới xây đẹp và rộng mênh mông bên bờ biển có tên là Pine Bay ở Kusadasi Aydin thuộc tỉnh Izmir. Đến nơi hết phòng bình thường nên chúng tôi phải ở từng cặp trong những bungalow 2 phòng ngủ, 2 phòng tắm xây trên dốc đồi – giá có cà con cháu đi theo thì ngon lành! Chúng tôi dùng bữa cơm tối ở restaurant ngay trong resort, rất đẹp, ăn theo lối buffet nhưng đồ ăn rất ngon, dessert cũng rất ngon. Ăn xong các bà đi shopping ngay trong resort

còn tôi thì lo … đi về phòng ngủ ngủ sớm để lấy lại sức mai đi tiếp - tôi đã phải đi một quãng khá xa và leo đồi nữa nên tiêu hết cơm... nhưng cuối cùng thì cũng tới bungalow của mình.

Hướng Dương txđ
Tháng1 ngày 7 năm 2013

Trở lại Đầu Trang

';