Trang Web Hướng Dương Txđ


Trở Về Trang Chính

Đi Thăm Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Hướng Dương txđ



Chúng tôi bay từ Hoa Thịnh Đốn đến Istanbul trên một chuyến bay của hãng Hàng không Turkish Airlines. Khởi hành từ Dulles Airport vào lúc 11:30 đêm, chúng tôi đã tới thành phố nổi tiếng đẹp nằm giữa Hắc Hải và Biển Marmara vào lúc 4:20 trưa của ngày hôm sau, tức là sau hơn 10 tiếng bay. Phi trường Istanbul tuy rộng lớn và có những lối đi vào thẳng bên trong qua cầu nối liền máy bay với cổng lên máy bay (gates), nhưng chuyến chúng tôi đi lại đậu ngay giữa sân bay, hành khách phải lễ mễ kéo hành xuống hai cầu thang bằng sắt và lên một chiếc xe bus đưa tới cửa vào phi trường. Leo lên chiếc cầu thang cuốn, chúng tôi đi một khoảng khá xa thì vào tới khu xét chiếu khán và thông hành. Vì không xin chiếu khán (visa) ngay từ Mỹ nên chúng tôi xếp hàng đi tới cửa cấp chiếu khán. Chìa 20 đô la ra là mỗi người được đóng một con dấu trên thông hành, tất cả thủ túc xin cấp chiếu khán chỉ có thế và mất chưa đầy 15 giây. Sau đó chúng tôi theo làn sóng người lũ lượt đi tới khu kiểm tra thông hành. Vì quá đông người nên du khách phải xếp hàng chờ tới phiên mình khoảng nửa tiếng nhưng thủ tục kiểm soát kéo dài chưa tới 30 giây. Chúng tôi chỉ chìa passport ra chờ đóng dấu cái bịch thế là xong. Sau đó những ai có gửi hành lý thì đi tới quầy trả hành lý rồi đi ra cổng, không phải xét hải quan vì không có gì để khai hết. Ra đến phòng bên ngoài có hàng mấy chục nhân viên của các hãng du lịch đứng lố nhố chờ tìm đón du khách.

Chúng tôi tụ họp lại để người tour guide kiểm tra tên, sau đó ra xe bus rộng lớn đi về khách sạn. Khách sạn khá xa phi trường, đi mất nửa tiếng mới tới nơi. Tên khách sạn là Grand Hotel Halic ở khu được biết tên là Beyoglu mà tour guide quả quyết là ở chỗ sang trọng thuộc khu vực Âu Châu của Istanbul – anh ta dùng chữ Instabul Europe (sic!). Grand Halic Hotel, trông ra khúc biển ăn vào đất liền có tên là Golden Horn, là một khách sạn xưa nhưng đã được tân trang, trông cũng được, phòng tiếp đón khách trần cao, có chùm đèn pha lê lớn, bao lơn từng trên bằng đồng vàng bóng nhoáng nhìn tưởng là vàng thật.

Nhóm chúng tơi 32 người nhận chìa khóa xong thì tới trao cho tiếp viên passport rồi lên phòng riêng bằng hai cái thang máy nhỏ xíu chỉ bốn người đứng vừa. Mặc dù hãng du lịch cho biết là các hotel chúng tôi tới trú ngụ đều thuộc loại 4-5 sao, nhưng vào bên trong chúng tôi thấy mức độ khang trang của phòng chỉ đáng 3 sao là cùng, nếu theo tiêu chuẩn của nước Mỹ - chắc theo tiêu chuẩn của Thổ Nhĩ Kỳ thì là bốn sao.

Sau một tiếng hơn nghỉ ngơi cho khỏe lại, chúng tôi lại xuống dưới nhà ngồi chờ đi ăn cơm tối. Tour guide đưa chúng tôi tới một nhà hàng địa phương, ăn thức ăn địa phương - gồm một đĩa sà lát chỉ có cá chua thái hạt lựu pha hạt óc chó (walnut), những loại bánh mì nướng xẹp lép chấm phó mát và bột đậu hoà lan (pea) xay, bánh có thịt cừu băm phết lên trên rồi đem nướng, bánh tròn hình qua trứng trong có nhân thịt cừu chiên và sau hết là một đĩa cơm có thịt cừu hay thịt bê nướng (kebap) - món này giống món thịt nướng của người dân Hy Lạp (kabab). Ăn xong cơm, tráng miệng có món bánh ngọt cũng giống như bánh baklava Hy Lạp, ai uống trà hay cà phê phải trả thêm tiền túi..

Istanbul, thành phố mà ngày xưa khi còn ở Trung Học chúng tôi được biết đến với cái tên là Constantinople, là thành phố du lịch nổi tiếng hơn cả Thủ Đô Ankara. Với một số dân cư lên tới 13.5 triêu người, Istanbul là đô thị lớn nhất nước, đồng thời là thành phố đứng đầu về các lãnh vực kinh tế, văn hoá, và lịch sử. Istanbul trải rộng trên hơn 5000 cây số vuông, và vì nằm trên eo biển Bosphorus, một trong những con đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới, Istanbul được coi là nhịp cầu giữa hai lục địa Âu và Á Châu. Istanbul được thành lập trên mỏm Sarayburny vào khoảng năm 660 BC với cái tên là Byzantium để rồi được đổi tên là Constantinople vào năm 330 AD, và được coi là thủ đô suốt bốn đế quốc La Mã, Byzantine (La Mã Phương Đông), La tinh và Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), cho tới năm 1922 khi nó trở thành Istanbul và không còn là thủ đô nữa. Chính vì thế mà tất cả những lâu đài dinh thự đền thờ của các vua chúa thời xưa đều nằm trên những ngọn đồi của Istanbul.

Hơn nữa Istanbul có vị trí chiến lược trên con Đường đi Buôn Lụa (Silk Road) lịch sử nối liền Trung Đông và Âu Châu vì nó nằm trên con đường hàng hải duy nhất nối liền Hắc Hải và Địa Trung Hải. Cũng vì thế mà những người định cư nơi đây thuộc nhiều chủng tộc khác nhau và trong thập niên 1050 vì có đông dân cư du nhập từ Anatolia (bán đảo tạo thành vùng mỏm cuối của Á Châu về phiá Tây được bao quanh bởi Hắc Hải ở phiá Bắc, Địa Trung Hải ở phiá Nam và Biển Aegea ở phía Tây còn về phía Đông thì là dãy núi Taurus. Anatonia là vùng của Á châu ăn liền với Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) nên số dân của thành phố này đã tăng lên gấp 10 lần. Istanbul được coi là một trong 10 thành phố trên thế giới có nhiều du khách đến thăm nhất (7 triệu người vào năm 2010) và trung tâm thành phố này được cơ quan UNESCO công nhận như là một trong những gia tài của thế giới. Mặc dù vậy du khách còn thích đến viếng vùng Sừng Vàng (Golden Horn) và khu vực Beyoglu District nữa.

Một vài Biến Chuyển Lịch Sử của Istanbul:

Đại đế Constantine đã đặt kế hoạch xây một thành phố Thiên Chúa Giáo vào cuối năm 324 AD để thay thế cho thành phố Byzantium và đặt tên cho nó là Nea Roma (Tân La Mã) mặc dù tên thông dụng của nó là Constantinople. Sáu năm sau Constantinople được tuyên bố là thủ đô của một đế quốc mới mang tên là Đế Quốc Byzantin ( Đế Quốc La Mã ở Đông Á). Contantinople từ từ biến thành trung tâm văn hóa Hy Lạp và Thiên Chúa Giáo. Nhiều nhà thờ đuợc dựng lên như Đại Thánh Đường Hagia Sophia là nhà thờ được coi là lớn nhất trong suốt 1000 năm. Trường Đua Ngựa (Hippodrome) Constantinople có thể chứa mấy chục ngàn người cũng đã được xây vào thời kỳ này. Vào giai đọan chót của thời đại Byzantine (Byzatine era) Constantinople được coi như là thành phố lớn và văn minh nhất Âu Châu nếu không muốn nói là Thế giới. Nhưng Constantinople bắt đầu suy tàn sau khi bị bọn Hành Hương lần thứ tư (Fourth Crusade) phá phách và cướp bóc. Nó trở thành trung tâm của Đế Quốc La Tinh trong một giai đoạn ngắn và khi Đế Quốc Byzantine được phục hồi thì Constantinople đã không còn như xưa nữa và số dân cư từ 8 triêu vào thế kỷ thứ Tám  đã xụt xuống vài trăm ngàn. Dân Thổ tấn công liên tục và đến thế kỷ thứ 14 bọn Ottoman Turks bao vây cắt đứt đường liên lạc của Constantinople. Ngày 29 tháng Năm 1453 vị hoàng đế La Mã cuối cùng là Constantine XI bị giết,  Constantinople trở thành thủ đô của Đế Quốc Thổ và Hagia Sophia đã từ một thánh đường biến thành một nhà thờ Hồi Giáo.

Vua Hồi Giáo (Sultan) Mehmed II nhanh chóng hồi phục Constantinople, nay còn được gọi là Istanbul, kêu gọi dân khắp nơi trở về làm ăn, ông mời các dân tộc Âu Châu đến định cư và chằng bao lâu sau, Constantinople biến trở lại thành một thành phố văn minh và to lớn. Khu chợ Grand Bazaar và Dinh Vua Topkapi được xây lên. Nhiều nhà thờ Hồi Giáo cũng được xây cùng với những bệnh viện, trường học, và nhà tắm công cộng. Những kiến trúc hồi giáo trông rất đẹp mắt xuất hiện nhất là vào thời vua Suleiman the Magnificent từ 1520 đến 1566 và đến cuối thế kỷ thứ 18 số dân cư đã lên tới gần 6 trăm ngàn người. Một thời kỳ loạn ly xẩy đến vào đâù thế kỷ 19, sau đó vua Mahmud II lên ngôi, ông canh tân chính trị và du nhập những kỹ thuật tân tiến vào nước Thổ. Cầu cống, đường rầy xe lửa nối liền với Âu Châu được xây cất. Sang đến thế kỷ thứ 20, xẩy ra cuộc Cách Mạng của Nhóm Thổ Trẻ (Young Turk Revolution) rồi đến thế chiến, Istanbul bị Anh Pháp và Ý Đại Lợi đóng quân cho tới năm 1923. Với sự thành lập sau đó của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, thủ đô được chuyển tới Ankara. Tuy nhiên từ những năm cuối 1940 và đầu 1950, Istanbul được kiến thiết lại theo lối văn minh Tây Phương như du khách có thể thấy ngày nay.

Ngày đầu tiên đi thăm Blue Mosque và Topkapi Palace:

Ngày hôm sau chúng tôi dạy lúc 7 giờ 30 xuống phòng ăn của khách sạn ăn điểm tâm để 9 giờ lên xe bus đi thăm hai nơi là Blue Mosque và Topkapi Palace nằm trong vòng đai của thành phố Istanbul. Một thắng cảnh cũng nằm trong Istanbul nữa là Haglia Sofia Museum thì chúng tôi sẽ phải đợi tới ngày hôm sau mới đi xem được vì bảo tàng đóng cửa ngày Thứ Hai. Lên xe bus xong, chiếc xe chạy lòng vòng qua thành phố với những con đường khá rộng, nhiều xe chạy như mắc cửi. Istanbul có những con đường lên lên xuống xuống làm cho tôi nhớ tới thành phố San Francisco, nhưng có nhiều con đường đồi lòng vòng hơn. Hai bên đường phần lớn là những toà nhà khang trang ba bốn từng lầu mới xây cất lại sau này – nhưng cũng đã bốn năm chục năm -

nhưng cũng có những khu nhà cổ xưa và những con đường hẹp làm cho du khách liên tưởng đến những phố Paris, Vienna, Rome… Cảm tưởng của chúng tôi là nuớc Thổ Nhĩ Kỳ văn minh từ lâu đời nên Istanbul có những kiến trúc không khác những thành phố bên Âu Châu bao nhiêu. Ngồi trên xe bus tôi nhớ lại những thành phố đã đi qua, Prague, Budapest, Vienne, Dresden… sao thấy Istanbul giống những thành phố đó quá!

Chừng nửa tiếng sau thì chúng tôi đến gần khu có những thắng cảnh, xe chạy qua những con đường nhỏ, nhìn lên trời thấy những mái vòm và những tháp đền vươn cao lên một bầu trời xanh, ai nấy thấy rộn vui trong lòng. Xe chạy thêm chừng năm phút quanh những con đường hẹp thì tới nơi, tài xế đậu lại cho chúng tôi xuống rồi đi tới bãi đậu. Người tour guide dẫn chúng tôi đi băng qua một công viên tới cổng để đi vào bên trong khuôn viên của Blue Mosque. Mọi người cởi giầy, bỏ vào một túi nylon để sách tay – đàn bà khỏi phủ đầu bằng khăn quàng - rồi đi bộ chừng vài phút theo một hành lang thì vào tới bên trong đền thờ. Những người địa phương đi lễ thì có thể vào bắng cổng chính, chúng tôi đi tham quan nên phải đi bằng lối cửa bên.

Đền Thờ Xanh còn có cái tên là Sultan Ahmet Mosque vì nó do vị vua Thổ Nhĩ Kỳ này cho xây cất vào năm 1603 và hoàn thành vào năm 1616. Vị vua Ahmet I này muốn có một đền thờ to lớn và đẹp ngang nhà thờ Aya Sofya và chính ông đốc thúc việc xây cất, nhiều khi chính ông bắt tay vào việc làm cùng những công nhân và ông luôn tưởng thưởng những ai xiêng năng để khuyến khích họ làm việc. Đền Thờ Xanh, giống như đền thờ ở Mecca ở Saudi Arabia, có tới 6 ngọn tháp, nhiều hơn tất cả những đền thờ hồi giáo ở Istanbul - trừ đền thờ Sabanci ở Adana - và sân của nó cũng lớn hơn tất cả những đền Thổ Nhĩ Kỳ khác. Bên trong đền, cái gì cũng lớn, những viên gạch đá hoa màu xanh nhiều lên tới con số hai chục ngàn viên, đền có 260 cửa kính và vùng trung tâm để ngồi niệm kinh rộng thênh thang. Nhìn Blue Mosque từ trường đua ngựa (hippodrome) thì mới thấy sự hùng vĩ của đền thờ này. Sân bên ngoài lớn bằng diện tích bên trong đền.

Đền Thờ Vua Ahmed áp dụng những kinh nghiệm kiến trúc của của 200 năm xây cất những đền thờ Thổ và những nhà thờ Thiên Chúa được xây cất trong thời kỳ đế quốc La Mã phương Đông (Eastern Roman Empire hay Byzantine Empire). Nó dựa trên lối kiến trúc của nhà thờ Hagia Sophia ở ngay bên cạnh đó, lối kiến trúc nửa Byzantine, nửa Hồi Giáo. Blue Mosque được coi là đền thờ Hồi Giáo lớn cuối cùng của thời đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman empire) với ba đặc tính: to lớn nặng nề, oai hùng, và tráng lệ.

Vào đến bên trong cái hấp dẫn sự chú ý của du khách là những cửa kính màu và những viên gạch bông Iznik: Mặc dù những cửa sổ này (vòm bán nguyệt có 18 cửa sổ trong khi vòm chính giữa có 28

cửa) không là những cửa nguyên thủy đặt làm từ Venice, Ý Đại Lợi nhưng chúng cũng rất huy hoàng với những màu sắc phản chiếu

ánh sáng bên ngoài; còn những viên gạch bông xanh làm bằng tay với hình bông hoa tulip 50 kiểu khác nhau và hình trái cây và cây cypress nhiều tới độ xưởng làm nổi tiếng Iznik không đủ số cung cấp kịp thời nên đã phải để những xưởng khác bù thêm cho đủ số, vì vậy mà gạch không đồng phẩm chất, với thời gian bi lu mờ đi. Trong đền có bốn cột trụ lớn mang tên “cột chân voi” chống đỡ mái vòm cung chính, những cột này so với những cột bên Nhà Thờ Aya Sofia thì trông thô kệch và thiếu vẻ mỹ thuật. Vòm mái có những hình vẽ vòng vo theo kiểu arabesque trông đẹp nhưng dễ hoa mắt nếu nhìn kỹ và lâu. Sàn nhà có trải thảm do tiền của con chiên hiến tặng và thảm được thay thường xuyên mỗi khi bị cũ hay hư hỏng. Lủng lẳng trên không là những trùm đèn với hàng mấy chục ngọn, 

xưa kia đèn có trạm vàng và đá quí nhưng đã bị trộm gỡ một số, số còn lại đã được bỏ vào  các viện bảo tàng của thành phố Istanbul cho chắc ăn.

Phiá bên ngoài đền là sân lộ thiên với một dẫy hàng hiên chạy bốn phía hình vuông với những cột cửa hình vòng cung, ở giữa sân là một bể nước hình sáu cạnh tương đối nhỏ so với diện tích của sân. Cổng vào sân này có một sợi xích sắt chắn ngang chỉ nhà vua mới được đi ngựa vào bằng lối này và muốn qua, vua phải cúi đầu để khỏi bị vướng xích, một cử chỉ báo cho biết rằng nhà vua cũng phải kính trọng thần thánh.

Từ xa bên ngoài du khách có thể thấy 6 cái tháp (minarets) bốn cái ở bốn góc của đền thờ và hai cái kia dựng ở cuối sân phiá trước. Bốn tháp chính có ba lan can (balcony) có tên là Şerefe hai cái kia

chỉ có hai lan can mà thôi. Ngày xưa, người muezzin, tức là người có bổn phận đọc thông báo sắp có buổi cầu nguyện, phải năm lần một  ngày leo hàng mấy trăm bậc thang hình xoáy trôn để lên tới lan can hầu làm cái công việc thông báo này. Ngày nay có hệ thống

báo hiệu oang oang vang lên khắp thành phố. Đêm đến có hệ thống đèn điện đủ mầu sắc chiếu sáng cũng là lúc tiếng báo hiệu nổi lên và hàng hàng lơp lớp người mộ đạo cũng như du khách đứng ở sân trước đền thở chờ vào tham dự buổi lễ cầu nguyện.

Ngôi mộ của Vua Ahmet 1 đặt ở mặt phiá bắc của ngôi đền đối diện với Công Viên Sultanamet. Vua Ahmet lên ngôi lúc mới 13 tuổi và tạ thế một năm sau khi ngôi đền thờ mang tên ông hoàn thành. Cùng chôn trong ngôi mộ này có bà vợ ông tên Kösem, bà này đã bị bóp cổ chết trong nhà dành cho cung nữ (harem) của Topkapi Palace.

Đi Thăm Topkapi Palace

Sau khi xem xong Blue Mosque, chúng tôi lại tập hợp ngoài khuôn viên của đền thờ Blue Mosque để đi bộ tới Topkapi Palace. Topkapi Palace ở vế phiá Bắc, cách đó khoảng 2 cây số, hay hơn tôi không biết rõ. Tôi chỉ biết chúng tôi đã đi bộ khoảng chừng nửa giờ đồng hồ thì tới cổng vào Điện Topkapi. Anh dẫn đường nói chúng tôi khỏi phải xếp hàng theo cái đuôi dài đứng chờ mua vé vào cửa. Được biết vé vào xem Điện Topkapi là 25 đồng tiền Turkish Lira (hay 14 đồng nếu trả bằng đô la, 11 đồng nếu trả bằng Euro) Anh ta đưa cho chúng tôi mỗi người một tấm vé và chỉ cách bỏ vé vào máy canh cửa và dặn dò chúng tôi phải giữ vé cho đến khi ra về.

Topkapi Palace là một cung điện lớn và xưa nhất trên thế giới còn sót lại cho tới ngày nay. Năm 1924 theo lời đề nghị của Ataturk, nó đã trở thành một bảo tàng. Cung điện Topkapi nằm trên khu đất cao nhất vùng, nơi xưa kia nhóm người đầu tiên tới Istanbul định cư, nó nhìn ra vịnh Golden Horn, vùng eo biển Bosphorus và Biển Marmara. Xung quanh là 5 cây số tường thành bao quanh một vùng có diện tích lên tới 700.000 mét vuông.

Sau khi chiếm được Istanbul vào năm 1453, Vua Thổ Mehmet chuyển thủ đô của đế quốc Thổ đến thành phố này và cho xây Topkapi Palace vào những năm 1470 – lúc đầu được đặt tên là Dinh Thự Mới (New Palace) vì khi trước ông ta ở một dinh thự khác ở trung tâm Istanbul. Topkapi tiêu biểu cho lối kiến trúc dinh vua của người Thổ Nhĩ Kỳ. Dinh này có ba sân lớn có trồng cây cối, mỗi sân có một dụng ích riêng, sân này thông qua sân kia bằng những cổng (gate) to kiên cố. Quanh mỗi sân có những toà nhà có công dụng riêng nhất định. Kể tứ khi hoàn tất, Topkapi Palace không ngừng được các vua Thổ cho sửa sang và xây cất thêm. Những loại gạch bông, đồ gỗ và kiểu kiến trúc thấy tại Topkapi Palace thể hiện tiến trình phát triển của nghệ thuật Thổ Nhĩ Kỳ và sự hiện diện hài hoà của những kiểu khác nhau qua bao thế kỷ.

Kể từ năm 1853, khi những vua Thổ chuyển tới ở Dolmabahçe Palace thì Topkapi thôi không còn là một dinh thự cho vua nữa và đã bị bỏ cho tàn tạ. Nhưng tới thời kỳ Cộng Hòa, suốt 50 năm dài Topkapi Palace được sửa sang và lại đẹp lại như xưa. Đồ đạc trang hoàng trong dinh thự này là những công trình nghệ thuật có một không hai.

Ngày xưa Dinh Topkapi là nơi vua ở nhưng cũng là nơi làm việc của nhà vua, những buổi họp triều đình xẩy ra nơi đây, ngân khố (treasury), nhà máy đúc tiền (mint) và văn khố quốc gia (national archives), trường dạy cho nhà vua đều nằm nơi đây. Hậu cung (harem) cũng được chuyển tới Topkapi Palace.


Những gì Du Khách thấy tại Topkapi Palace:

Để đi vào sân đầu tiên, chúng tôi qua cổng chính được gọi là Cổng Dinh Vua (Imperial Gate). Xung quanh sân này có lò bánh, xưởng đúc tiền, khu doanh trại cho lính canh nhà vua, và nhà chứa củi. Ngoài ra có toà nhà lát gạch bông (Tiled Pavilion) và viện Bảo Tàng Khảo cổ và một nhà thờ xây cất vào thế kỷ thứ 6 theo lối Byzantine, nay là bảo tàng viện Hagia Eirene.

Sau khi ngắm xung quanh, chúng tôi đi qua Cổng Nghênh đón (Salutation Gate) để đi sang sân thứ hai, nơi đây có những toà nhà hành chánh của quốc gia thời xưa. Chỉ có vua mới có thể đi qua cổng này trên lưng ngựa còn những quan chức và những vệ binh của nhà vua thì phải đi chân và chỉ được tới nơi đây vào những ngày phát lương mà thôi.

Những phái đoàn ngoại giao được tiếp đón và những lễ hội quốc gia được tổ chức trong sự tôn nghiêm nơi sân này với số người tham dự có khi lên tới cà chục ngàn người. Nếu có vua tham dự thì ngôi vua được đặt ở cuối sân, nhìn đối diện với cổng vào. Tháp duy nhất của dịnh Topkapi nằm ở sân thứ hai này và có tên là Tháp Công Lý vì tiêu biểu cho toà an tối cao của quốc gia. Tháp này trông ra toàn thành phố và bến càng, lính canh gác được bố trí ở tháp này để quan sát bất cứ diễn biến gì xẩy ra. Lối vào tháp này đặt ở khu nhà cung nữ ở (Harem).

Toà nhà Harem là khu vực riêng tư, nơi cư ngụ của mẹ vua, anh em vua và tất cả những ai khác thuộc hoàng tộc cũng như tất cả những kẻ hầu hạ vua và gia đình nhà vua như cung phi và các quan hoạn. Toà nhà Harem bao gồm một dẫy hành lang dài với khoảng 400 phòng rải rác nơi những sân nhỏ xung quanh. Toà nhà này bị cấm không cho du khách vào và nó là nơi xẩy ra bao nhiêu là những mẩu chuyện huyền bí. Cung phi / nàng hầu (concubines) hầu hạ vua và những người trong hoàng tộc được tuyển chọn trong số những thiếu nữ đẹp nhất và khỏe mạnh gồm đủ mọi sắc tộc. Họ là những tặng phẩm cho nhà vua, họ đến ở trong toà nhà Harem từ khi còn nhỏ và được dạy dỗ thật kỹ lưỡng. Sau khi họ đã rành với lề lối sống trong dinh vua thì họ được chia ra làm nhiều nhóm. Những ai được vua để ý tới thì có hy vọng trở thành vợ vua. Trong đế quốc Thổ không có ngôi vị “hoàng hậu” do đó mẹ vua là người duy nhất nắm quyền chỉ huy trong Harem, nơi xẩy ra bao nhiêu là chuyên thù hằn ganh ghét gian díu và mưu đồ … Khi một vua khác lên ngôi thì tất cà những ai trong harem cũ đều bị chuyển đi tới một dinh khác.

Trong khu vực này còn có toà nhà có mái hình vòm cung nơi trưng bầy những vũ khí và áo giáp thời xưa của cả nhà vua và binh lính trong dinh, cùng những vũ khí tịch thu được của kẻ thù. Bên cạnh là toà nhà nơi hội đồng nhà nước gồm những tể tướng và phụ tá làm việc và hội họp. Nhà vua không tham gia các buổi họp nhưng có thể từ một cửa sổ trổ trên tường ở tuốt trên cao ăn thông với tòa nhà Harem nghe những quyết định được tuyên bố. Những bữa tiệc khoản đãi các phái đoàn nước ngoài cũng được tổ chức trong toà nhà này.

Kế bên, ở phiá bên phải của sân thứ hai là dãy nhà bếp với 20 cái ống khói. Trong 12000 bát đỉa bằng sứ mang từ bên Tầu và bên Nhật về, khoảng 2500 được trưng bày nơi đây. Nhà bếp này khi xưa là nơi làm việc của hơn một ngàn bếp chánh và bếp phụ lo chu toàn những bữa ăn trong tất cả những khu vực trong dinh.

Sang tới sân thứ ba qua lối Cổng Hạnh Phúc (Felicity Gate) là khu vực riêng của nhà vua, ngày xưa chỉ những ai có phép mới được bén mảng tới, khu vực này do các hoạn quan trắng (White Ennuchs) canh giữ. Đại học nhà vua, phòng ngôi vua, nhà kho chứa vàng bạc châu báu của nhà vua và những phòng chứa những di tích thiêng liêng cũng ở tại sân thứ ba này. Vua tiếp những đại sứ của những nước khác cũng như những quan chức lớn trong phòng có ngôi vua này. Ngày xưa vì lý do an ninh những kẻ hầu hạ vua nơi đây đều là những người vừa câm vừa điếc. Gần đó là một tòa nhà trưng bày 2500 bộ trang phục

nhà vua làm bằng tay với vải lụa chế tạo ngay trong dinh, những bộ trang phục này được chứa trong những tủ áo có từ thế kỷ thứ 15. Quần áo vua mặc có thêu sợi vàng bạc. Nơi đây còn có những bộ thảm quí tiêu biểu cho nghệ thuật cao siêu của Thổ Nhĩ Kỳ, thảm này dành cho vua qùi thờ.

Kho vàng bạc châu báu trưng bầy những bộ trang sức quí nhất thế giới, tất cả đều là đồ thật nguyên bản đủ loại, của Thổ Nhĩ Kỳ cũng như những đồ quí mang từ Viễn Đông, Ấn Độ, Âu Châu. Bao nhiêu là loại trang sức và đồ quí của vua thuộc các thời đại khác nhau, phòng thứ nhất chứa trang phục, vũ khí, ống điếu nước, ly uống café Thổ (Turkish Coffee) vân vân… , tất cả đều bọc vàng bạc và trạm trổ kim cương hay đá qúi. Phòng thứ hai có tên là Phòng Ngọc (Emerald Room) chứa bao nhiêu là đồ đeo cổ và đồ cài trên áo, cà những viên ngọc chưa cắt cân nặng hàng kí lô và nhất là cây kiếm topkapi có trạm ba viên ngọc khổng lồ tượng trưng cho dinh thự này. Phòng thứ ba chứa những đồ tráng men, những huy chương và huân chương của những nước khác trao tặng Vua Thổ Nhĩ Kỳ, cặp chân đèn cầy bằng toàn vàng mỗi cây nặng 45 kilô, chiếc ghế nhà vua bằng toàn vàng các Vua Thổ ngổi ngày đăng quang, cục kim cương 86 carats v…v… Từ lan can nối liền phòng số 3 với phòng số 4 người ta có thể ngắm eo biển Bosphorus và phiá bên kia thành phố thuộc vùng Á Châu. Trong phòng số 4 có chiếc ghế vua có nguồn gốc vừa Ba Tư vừa Ấn Độ và nhiều đồ đạc có gắn những viên đá quí đáng xem cho biết.  Ngoài ra còn có toà nhà chứa những đồng hồ quí đủ loại do những thợ làm đồng hổ Thổ Nhĩ Kỳ chế tạo cho nhà vua, và một số đồng hồ mang từ Anh Cát Lợi về, và bên cạnh là phòng chứa những thánh tích (sacred relics) của đạo Hồi có từ thế kỷ thứ 16 và những bức chân dung các vua Thổ qua các thời đại.

Nếu muốn qua sân chót, sân thứ Tư, thì phải đi dọc một hành lang nơi đây có vườn hoa và một số tòa nhà như Revan Pavilion và Baghdad Pavilion xây bằng gỗ từ thế kỷ thứ 17. Nơi đây có những tiệm ăn cho du khách ngồi nghỉ chân ăn uống ngắm cảnh đẹp của Vịnh Golden Horn

Kết luận:

Ở Topkapi Palace ra chúng tôi đi ăn trưa, lúc đó đã hơn 3 giờ chiều. Ăn xong chúng tôi đi coi nơi xưa kia là Trường Đua Ngựa (Hippodrome) bi giờ chỉ là một công viên rộng lớn nơi đây có trồng cây Tháp Ai Cập có đầu đinh (Obelisk) giống cái ở Champs Élysées ở Paris và ở Luxor bên xứ Ai Cập. Nhóm chúng tôi tụ tập chụp hình kỷ niệm trong tiếng loa inh ỏi kêu gọi đi dự Thánh Lễ buồi chiều, tiếng loa đi xa tuốt rồi dội lại nghe điếc cả tai.

Chụp hình xong, mọi người lên xe bus để được đưa tới bến tàu, lấy tàu đi loanh quanh vịnh Golden Horn. Riêng tôi đi về khách sạn ngủ khì hơn ba tiếng đồng hồ (vì đêm hôm trước thức trắng đêm do sự khác biệt múi giờ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ) súyt lỡ chuyến đi ăn tối tại một nhà hàng đồ biển ở một khu phố có đèn sáng trưng chỉ toàn những nhà hàng đồ biển. Đồ ăn Thổ Nhĩ Kỳ tuy ăn được nhưng không có gì là đặc

biệt, toàn là thức ăn dọn theo một thực đơn sẵn, thực khách không chọn theo ý mình. Có lẽ đó là vì đi tour, đóng tiền cho hãng du lịch nên họ chỉ đưa đi ăn ở những nơi như thế. Hay là đó là lối ăn của người Thổ thì tôi không biết…..

Xin đọc tiếp bài sau kể chuyện đi thăm Aya Sofia và chuyến đi thăm thành cổ Troy

Hướng Dương txđ
12-3-2012

Trở lại Đầu Trang