Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Đi Thăm Aya Sofia, Bursa, và Ulu Cani
Hướng Dương txđ



Chương trình của ngày thứ hai là sẽ đi thăm Viện Bào Tàng Aya Sofia ở Istanbul sau đó sẽ đi Bursa để xem Great Mosque (Ulu Cami). Sáng sớm 7 giờ chúng tôi xuống ăn sáng. Chúng tôi lên xe lúc 8 giờ xe đi một vòng phố Istanbul, băng qua Golden Horn bằng cây cầu Ataturk, đi theo con đường đã đi hôm trước, qua những khu nhà nay thấy đã quen quen, những nhà mới có cổ có, những nhà thờ, những thành trì, xe chạy phần lớn trên những con đường lớn dọc theo bờ eo biển Golden Horn như Ragip Gumnopola nơi đây có Istanbul Tigaret University, và Kennedy Avenue, để rồi quẹo vào những con đường nhỏ đi tới đường Ahirkapi rồi Ishak Pasa là tới nơi, tổng cộng có 6 cây số mà đi cũng phải mất hơn 20 phút vì xe cộ đông và phải ngừng ở nhiều đèn đỏ. Dân Istanbul văn minh, chạy xe trật tự nối đuôi nhau thành hàng, không chen lấn nhau như ở Cairo, theo đúng luật lệ đi đường của xứ văn minh. Xe đậu, đổ hành khách xuống trước một công viên. Chúng tôi đi bộ quãng khá xa, qua những xe bán nước trái lựu tươi mới ép, phiá trước xe bầy hàng mấy chục trái cắt đối sẵn trông rất đẹp mắt - lựu là trái đi đâu

cũng thấy bán - và xe bán hạt dẻ rang làm tôi nhớ La Mã nơi tôi đã vừa ăn vừa đi xem Colosseum. Tới cổng viện bào tàng Hagia Sofia, tôi thấy

một tòa nhà xây bằng đá với ba mái hình vòm cung màu xanh, hai bức tường to lớn và hai tháp cao màu trắng trông như thể hai hỏa tiễn Nasa. Chúng tôi đứng chờ ở trước cửa vào, nơi có một hàng dài người đứng chờ mua vé. Để vào thăm Hagia Sophia, không như vào Blue Mosque, du khách phải mua vé – 25 Lira Thổ Nhĩ Kỳ Thổ /14 đô la / 11 Euros nhưng chúng tôi không phải mua vì đi tour, vé được người dẫn đường cung cấp. Anh ta dặn dò đôi ba lời rồi chia cho mỗi người một tấm, sau đó chúng tôi đi vào bên trong.

Hagia Sophia là một công trình kiến trúc mỹ lệ, một tượng đài tiêu biểu cho cả hai thời kỳ đế quốc La Mã Phương Đông (Byzantine) và Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman).Nó được xây cất như là một thánh đường thiên chúa giáo. Được xây cất lại dưới thời Hoàng Đế Justinian vào năm 537, suốt chín thế kỷ Hagia Sophia đã là thánh đường chính của đạo Thiên Chúa Chính Thống (Orthodox Christianity) cho tới khi Istanbul bị quân Thổ chiếm đóng

– năm 1453 - để liền do lệnh của Mehmet II bị đổi thành một đền thờ Hồi Giáo cho các nhà vua Thổ trong suốt 500 năm liền. Năm 1935, dưới thời Cộng Hòa, Ataturk ra lệnh biến Hagia Sophia thành một bảo tàng viện và năm 1985 Unesco đã công nhận toà đài này như là một gia tài của thế giới vì tính cách lịch sử và kiến trúc của nó.

Hagia Sophia nằm đối diện với Blue Mosque và khác với Blue Mosque ở chỗ nó chỉ có 4 tháp mà thôi và những tháp này không cao vuốt như những tháp của Blue Mosque... Ngay ngoài cửa đi vào nhà thờ, hai bên con đường dẫn tới cửa chính, có những viên đá tròn to lớn, ngày xưa được dùng làm đạn bắn cho đại bác, đó là những viên đạn ngày xưa Mehmet Kẻ Đi Chinh Phạt (Mehmet the Conqueror) đã dùng trong cuộc tấn công đánh chiếm thành phố Istanbul.

Vào bên trong tôi thấy một đại sảnh rộng lớn hình chữ nhật dài 70 mét ngang 50 mét đầy những người tới coi. Có lẽ ai cũng bị thu hút bởi cái vẻ đẹp của Hagia Sofia, ai cũng muốn tới coi cái nhà thờ nổi tiếng này một lần. Tuy nhiên tôi có cảm tưởng vì nơi đây đã là một nhà thờ Thiên Chúa Giáo nên nó không được dân Hồi tôn trọng nên không chăm sóc đúng

mức - mặc dù nay nó là một bảo tàng viện - những lớp sơn trên trần bị phai mờ hay bị tróc(?) mà không được tô điểm lại. Ngay đỉnh đầu chính giữa là

mái vòm cung to lớn nhất đường kính 31 mét – to gần bằng cái của Pantheon ở Rome. Bốn phía là những khung tam giác tại thành bốn vòng cung chống đỡ mái dựa trên bốn cột lớn trên đó có hình vẽ bốn thiên thần ba thiên thần nhắm mắt, chỉ có một thiên thần mở mắt mà thôi. Thật là kỳ lạ!

Hai phiá đầu và đuôi của đại sảnh, vòm chính mái nhà tạo thành hai nữa vòm cung còn hai bên là hai bức tường thẳng đứng, một mặt tường có 12 cửa sổ lớn xếp thành hai hàng, hàng trên có 5 cửa, hàng dưới có bẩy. Mặt tường được phủ đá hoa cương màu xanh và tím và những viên đá lát nhỏ  màu vàng (mosaic). Bốn tấm hình tròn tựa như những cái nia to lớn trên đó trên đó có những  chữ viết kiểu bằng tiếng Hồi Giáo treo lủng lẳng hai đầu phòng nói lên sự tương phản giữa hai

tôn giáo Thiên Chúa và Hồi. Đó là tên những nhân vật: Allah và Muhammad trên đầu chỗ có bàn thờ, bên cạnh tên bốn ông đồ đệ đầu tiên của Muhammad là Abu Bakr, Umar, Uthman and Ali tại bốn góc, và Hasan và Husayn là cháu nội của Mohammed và Hasan.

Những viên đá hoa (mosaics) tuyệt đẹp được lát sau này để cho có dáng hồi giáo ở tầng trên - mà chúng tôi không lên vì muốn lên lại phải mua vé khác - biểu lộ sự thế nhà thờ Thiên Chúa này đã trong 500 năm được dùng như là một  nhà thờ Hồi Giáo. Sở dĩ Hagia Sophia được trang hoàng kỹ hơn ở mặt phiá Đông đối diện với lối đi vào chính là vì những nhà thờ Thiên Chúa Giáo theo truyên thống luôn được xây cất  hướng về phiá Đông, mà phiá Đông của nhà thờ Hagia Sophia lại phía Đông Nam của Istanbul tức là phiá mà những người Hồi Giáo quay mặt nhìn khi cầu nguyện (hướng về Mecca). Chính vì thế mà những cảnh đẹp đều nằm trong khu vực Đông của nhà thờ này.

Ngay ở tầng đất, chỗ đẹp nhất biểu tượng cho thời kỳ Hồi Giáo là nơi có bàn thờ: cáí mihrab trông tựa như một cánh cửa chỉ chỗ hướng về Mecca được xây bằng đá hoa cương tuyệt đẹp, bên cạnh là chiếc cầu thang có thế di chuyển được đưa lên chỗ người giảng đạo đứng. Bên trái là chiếc ghế bịt kín ba phiá để cho nhà vua Hồi ngồi dự lễ do, chiếc ghế này do anh em Fossati làm ra khi họ sửa sang lại Hagia Sophia vào thế kỷ thứ 19. Nếu ngửng đầu lên trần nhà mà nhìn chúng ta thấy hình Đức Mẹ Đống Trinh và một đứa bé kết bằng đá hoa, bên tay mặt là hình thánh Gabriel cũng bằng đá hoa kết lại (mosaic)

Đi lang thang hai bên hành lang là nơi đàn bà Hồi ngày xưa ngồi cầu nguyện, trên tường có nhiều tranh mosaic rất đẹp. Một bức mang tên Deësis Mosaic ở đầu hành lang phiá Nam diễn tả hình Đức Chúa hai bên là Đức Mẹ và John the Baptist. Ở cuối hành lang có hai mosaic làm thời Byzantin, bức bên trái có hình Chúa và hoàng đế Constantine IX Monomachus cùng hoàng hậu Zoe còn bên phải là  hình Đức Mẹ cùng đứa bé và Hoàng Đế John II Comnenus cùng Hoàng hậu Irene.

Để ra khỏi Hagia Sophia chúng tôi đi qua Phòng của những Chiến Binh (Vestibule of the Warriors) là nơi xưa kia binh lính đứng canh cho Hoàng Đế dự lễ. Trên cao nới bức tường trần trông ra cửa là bức hình nổi tiếng Đức Mẹ cùng hai Hoàng Đế Constantine và Justinian: Constantine Đại Đế trao cho Đức Mẹ mô hình thảnh phố Constantinople (Istanbul), mà ông là người sáng lập ra còn Hoàng Đế Justinian tặng Đức Mẹ nhà thờ Hagia Sophia mà ông ta đã cho xây lại. Tấm mosaic này làm từ thế kỷ thứ 10.

Chúng tôi rời Hagia Sophia để lên xe rời Istanbul đi tới chặng thứ hai của cuộc hành trình sáu ngày đi xem năm nơi ở vùng Tây của Thổ Nhĩ Kỳ.

Đi Bursa

Bursa là một thành phố ở phía Tây Bắc của Thổ Nhĩ Kỳ cách Istanbul khoảng 90 cây số đường chim bay. Mặc dù có thể đi máy bay, nhưng người ta thường lái xe đi Bursa – cách khác là đi phà hoả tốc rồi đi bus hay đi metro (xem dưới đây). Lái xe từ Istanbul tới Bursa người dân ở phiá Âu Châu của thành phố phải qua phía Á châu bằng cách băng qua eo Bosphorus bằng 1 trong 2 cây cầu có tên Bosphorus Bridge và Fatih Sultan Mehmet Bridge rồi đi về phiá Đông Nam tới Izmit, qua hai thành phố Sultanbeyli và Korfez, rồi đi về phía Tây tới Yalova, xong mới đi Nam qua Orhangazi rồi Gemlik để tới Bursa. Con đường này dài 229 cây số và bình thường đi mất 3giờ 38 phút. Nhưng chúng tôi lên đường lúc 9 giờ 30 là giờ đông xe, qua cầu sẽ bị kẹt cả tiếng hay hơn, nên tài xế quyết định chạy xe về phiá Nam doc theo bờ biển Marmara để tới Eceabat/ Cannakale. Xa lộ E87/E90/D550 đi từ Istanbul tới Cannakale rất tốt - tốt hơn xa lộ 101 đi từ San Francisco tới San Jose rất nhiều – quang cảnh hai bên đường giống như cảnh những nước tân tiến ở phiá Âu Châu, toàn xe hơi mới đẹp, không thấy có xe gắn máy nhà cửa cao ráo, dân chúng ăn mặc tươm tất, không thấy cảnh nghèo nàn. Chúng tôi tới một bến phà rộng có một dẫy những xe vận tải chuyên chở và vài xe tư nhân đậu thành hàng hai đợi phà tới.

Chúng tôi đã mất gần 3 giờ để vượt khoảng đường 236kms /146miles nối liền Istanbul với nơi này. Trên xuốt đường đi, người du khác có cảm tưởng nước Thổ Nhĩ Kỳ văn minh tân tiến và giầu có không thua gì các nước Tây Phương. Trên khoảng đường dài đó, đa số anh em chúng tôi ngôi trên chiếc xe bus đều thức, ngồi nghe những lời giải thích của anh chàng dẫn đường nói về đủ thứ đề tài liên quan đến lịch sử, văn hóa, tục lệ, v.. v.. của nước và dân Thổ Nhĩ kỳ.

Phà ở đây rất to, sạch sẽ, trông đẹp mắt. Bến Phà ở nơi đây có hàng hai chục cái chạy tới chạy lui nên thời gian chờ để xuống phà không lâu như tại những bến khác..Chúng tôi chờ chỉ chừng 15 phút là xuống phà để qua eo biển Dardanelles tới Cannakkale ở bên kia eo Dardanelles. Eo Dardanelles nối liền Biển Marmara với biển Aegean hồi xưa mang tên Hellespont là một eo biển hẹp - tuy gọi là hep nhưng rộng hơn eo Boporous (Bosphorous) nối liền Hắc Hải với biển Marmara nhiều – nhưng bề ngang chỗ rông nhất cũng lên tới 3.7 mile và rất dài (61 cây số / 38 m). Chỗ hẹp nhất ¾ mile là nơi đang có kế hoạch xây một cây cầu treo băng qua.

Thời gian băng qua eo biền là khoảng 20-25 phút. Xe vừa lên phà xong là một số lớn chúng tôi rời chiếc bus để leo lên lầu chiếc phà đi loanh quanh cho bớt chồn chân. Phà có 2 tầng, lên tới lầu thứ nhất là có cửa hàng bán nước uống, đồ ăn và những ghế bó bọc nệm để cho hành khách ngồi. Nhưng không giống những phà mà chúng tôi

có dịp đi cả ở Việt Nam lẫn Mỹ và những nước Âu Châu phà hôm đó thấy có bao nhiêu hành khách. Chúng tôi ra phiá mũi phà đứng ngăm cảnh nơi lan can: biển mênh mộng một màu xanh đậm, trên trời không một bong mây đên, gió biển thổi ào ào thật khoan khoái dễ chịu. Cả chuyến đi chúng chỉ thấy có hai con tàu chở hàng đi qua. Chim hải âu ba lơ lửng trên trời, lượn gió, là xuống tận gần con phà, nơi chúng tôi đứng hay ngồi tận hưởng cái đẹp tuyệt vời của thiên nhiên.

Nếu không đi theo đoàn du lịch, bạn đọc có thể ra bến phà Yenikapi ở Istanbul, lấy phà hỏa tốc tên calamaran ferry boat, tiếng Thổ là hizli feribot để đi xuyên biển Marmara thằng tới bến phà ở Yalova nằm ở bên phía Nam của bờ biển Marmara, sau đó lấy mộ  xe buýt lớn hay một xe buýt nhỏ (minibus) hoạc dùng xe lửa ngầm BursaRay đi Bursa. Muốn biết cách đi và mua vé hãy vào link dưới đây để được chỉ dẫn tường tận: http://www.turkeytravelplanner.com/go/ThraceMarmara/bursa/trans/bursa_guzelyali.htm

Phà sắp sang tới bờ phía bên kia, chúng tôi trở lên xe. Chiếc xe chạy chừng nửa tiếng nữa tới đậu trước một tiệm ăn ở vòng đai một thành phố nhỏ. Tiệm ăn này trông lạ mắt nằm trê một u đất cao nên có những bực thang đưa thêm thềm nhà hàng, bên cạnh có một cây cảnh và thác nước nhân tạo trông đẹp và vui mắt. Thức ăn ở đây cũng khá, thực khách ngồi ở bàn có người hầu mang thức ăn tới. Như mọi nơi khác các thức uống, rượu, bia,

nước ngọt hay nước có hơi hay không đều phải trả tiền thêm. Ăn xong chúng tôi ra phiá sau ngắm cái hồ rông thênh thang có trang trí những nhà cảnh, trông đẹp mắt và sang trọng. Ăn trưa xong là đã hơn 1 giờ 30, trở lên xe đi chừng hai tiếng là chúng tôi vào tới thành phố Bursa..

Bursa là một thành phố nằm cách xa bờ biển Marmara có chừng 20 cây số, nổi tiếng với có những đền thờ đẹp được xây theo lối kiến trúc đầu tiên của người Thổ (Early Ottoman Architecture), những chợ bán tơ lụa và những suối nước nóng. Bursa trong thời kỳ Đế Quốc Thổ được đặt tên là "Hüdavendigar" có nghĩa là thành phố trời cho và đã là thủ đô của nước Thổ thời đó. Nó là thành phố quan trọng bậc nhất mà quân Thổ Nhĩ Kỳ đã kiểm soát được và suốt từ năm 1326 cho tới năm 1365.  Chính vì thế mà nơi đây có nhiều di tích lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày nay Bursa được coi là thành phố đứng hàng thứ tư (sau Istanbul, Ankara, và Izmir) với gần 2 triệu dân cư. Bursa là cái cổng dẫn tới dãy núi cao nhất nước có tên là Uludağ nơi xẩy ra những cuộc tranh tài thể thao mùa Đông và nơi dân chúng tới trượt tuyết hàng năm vào mùa Đông. Bursa còn được mệnh danh là "Yeşil Bursa" có nghĩa là Thành phố Màu Xanh Lá Cây (Green Bursa) vì nơi đây có nhiều công viên và những

khu rừng trồng đủ loại cây mênh mông bao bọc cả những vùng xung quanh. Du khách đến Bursa có thể đến viếng những nhà mồ (mausoleum) của các vua Thổ đầu tiên thời xưa và đi xem những công trình xây cất thời Ottoman, những nhà thời Thổ như Great Mosque và Green Mosque, những nhà tắm nước nóng thiên nhiên, nhiều viện bảo tàng đặc biệt nhất là Viện Bảo Tàng Đồ Khảo Cổ.

Có một câu chuyện thần thoại nói về Bursa vui vui liên quan tới lối kịch truyền thống của người sân Thổ gọi là shadow play (trình diễn bằng hình bóng) kể cũng nên viết ra đây: “Khi xưa lúc xây dựng nhà thờ Ulu Cami ở Bursa vào năm 1396, để giúp vui cho những bạn thợ của mình hai người thợ tên Karagöz và Hacivat nghĩ ra cái trò chơi dùng bóng của mình trên tường để làm các bạn của họ cười . Riết công nhân cứ ngưng làm việc để xem hai anh này diễn hài kịch. Sự thể này làm trì trệ công việc xây cất nên nhà vua ra lệnh xử tử hai anh thợ này”. Tử đó trở đi khắp Thổ Nhĩ Kỳ nơi đâu cũng có những màn trình diễn hài kịch bằng bóng (shadow play).

Ngoài ra Bursa còn là cái nôi của những món ăn Thổ nổi tiếng như món Iskender kebap, món mứt hạt dẻ (marrons glacés), mứt đào và mứt lokum.

Để giúp các bạn nào muốn làm thử cái món truyền thống của xứ Thồ Nhĩ Kỳ là món kebap (món này tựa như món bún chả Hà Nội nhưng ăn thua xa vì thiếu cái hương vị quốc hồn quốc túy của chúng ta là… nước mắm!) chúng tôi xin viết ra cách làm sau đây: “mua thịt cừu về, thái từng khoanh dầy chừng 1 phân hay một phân rưỡi, ướp chút xíu muối tiêu và cỏ xạ hương băm nhỏ (thyme- mua bán sẵn ở chợ mỹ) xâu vào cây sắt đem nướng cho vừa chín. Nhớ thỉnh thoảng ngưng nướng và dốc thằng cây thịt, khi xuôi khi ngươc đầu, cho nước thịt chảy xuống và ngấm vào thịt phiá dưới (self basting) – không cho nước ngọt của thịt chảy xuống than, phí của trời – và không để cháy. Thịt bên ngoải chín, cắt lớp bên ngoài ăn rồi lại nướng phần bên trong, chín lại cắt ăn tiếp – như vậy anh chị nào nướng là cứ lo nướng, khỏi được “xực”, ha ha! Thịt vừa chín cắt bỏ lên điã, múc sốt cà chua nấu với bơ đổ một tí lên trên, ăn chấm yogurt – sao bằng chấm nước mắm pha tỏi chanh đường ta! – ăn với bánh mì dẹt của người Thổ.

Thôi trở lại nói thêm tí về Bursa: Bursa là nơi chôn hai nhà vua đã xây dựng lên thành phố này là Sultan Orhan và Sultan Osman. Du khách có thể đi viếng nhà mồ của họ là công trình xây cất tiêu biểu của lối kiến trúc đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ. Rất tiếc vì không có thời giờ chúng tôi đã không được tới xem.

Bursa có hai kỹ nghệ truyền thống là dệt lụa và làm mứt trái cây. Chúng tôi có đến xem một nhà máy nuôi tầm kéo tơ, dệt thảm lụa, có nhiều cái dệt tay dùng để treo tường làm cảnh, rất đắt tiền -  hàng chục ngàn trở lên - chỉ những nhà triêụ phú mới dán rờ vào. Cũng tại Bursa có những nhà máy chế tạo xe hơi nên Bursa được mệnh danh là thành phố Detroit bên Thổ Nhĩ Kỳ ("Turkey's Detroit"). Ngoài ra những ai khoái tắm hơi, trầm mình vào nước nóng thì tha hồ tới vô số nhà thermal SPA kể cả spa resorts và hotels.

Vừa tới Bursa, xe đi lòng vòng qua một vùng nhà cửa lụp xụp, đường nhỏ chạy vòng vo đầy cây cối tựa như một ngôi làng, chừng năm phút sau thì tới trung tâm Bursa. Xe dừng lại bên đường phố để đổ chúng tôi xuống. Qua đến phiá bên kia đường chúng tôi tụ họp rồi như một đàn cừu đi theo anh chàng dẫn đường người Thổ tay dương cao cây sào đầu có cây cờ đỏ trăng vàng nhỏ xíu của nước Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng đi chừng trăm ước, dừng ở nơi có một cái sân trước nhà thờ lớn (great Mosque) của Bursa tên Ulu Cami – còn một nhà thờ khác cũng nổi tiếng là Yeşil Cami (hay Green Mosque) - để nghe dặn dò trước khi đi vào xem. Ulu Cami Mosque được xây cất bởi Bayezid sau trận chiến thắng Nicopolis. Sau lần bị Timur đốt vào năm 1402. Toà nhà này lại hủy hoại vì trận cháy vào năm 1493 và đông đất 1885 tàn phá 18 cột trụ làm toà nhà xụp đổ một phần và được xây lại ngay. Một lần tái thiết khác được làm và hoàn tất năm 1959.

Nhà thờ Ulu Cami nằm ngay cuối con đường chính của thành phố có tên là Atatürk Caddesi, từ xa du khách có thể thấy hình dạng cái hộp lớn bằng đá trên cao có 20 mái hình vòm cung. Kiểu kiến trúc này tiêu biểu cho lối kiến trúc thời đầu của đế quốc Seljuk. Mặc dầu trông bên ngoài có vẻ dản dị nhưng Ulu Cami có hai cánh cửa bằng đồng đen to lớn trông đáng bái phục, tiêu biều của lối kiến trúc Seljuk. Từ ngoài nhìn vào khoảng trống thênh thang bới một rừng cột to lớn chống đỡ bao nhiêu là vòng cung và những mái vòm cung. Nơi chính gữa là một khu trống có che kính nhìn lên trời để có ánh sánh chiếu vào, nhưng tôi thấy cũng không đủ sáng khắp bốn phiá cách xa. Ngay dưới cửa số khồng lồ này là một bể nước nơi đấy những người đi lễ rửa tay chân, xúc miệng trước khi cầu nguyện và lễ. Nghe nói vùng có mái che của nhà thờ này lớn tới độ có thể chứa vài ngàn người đến dự lễ.

Trước nhà thờ có một sân rộng với một hồ nước lớn. Bước xuống mấy bực thềm ngay trước cừa vào có hai bức tường với hàng chục vòi nước để người dân đi lễ rửa ráy chân tay, súc miệng cho sạch trước vào lễ bên trong. Nhiều người lảng vảng nơi đây, kẻ vào kẻ ra, đa số là dân đi lễ nhưng một số ít khác là những người như chúng tôi tò mò tới đây xem cho biết cái không khí trang nghiêm bên trong nhà thờ Hồi Giáo.  Trước khi vào đền thờ mọi người phải cởi giầy cầm theo nhưng, không như khi vào Blue Mosque ở Istanbul, các bà muốn vào phải lấy khăn phù kín đầu. Nếu không có khăn thì nhà thờ cho mượn một chiếc khăn, khi ra trả lại, không phải mất tiền gì hết.

Đền thờ Ulu Cami bao gồm một phòng họp rộng lớn ngay chính giữa, được biết bề ngang 63 mét bề dài 50 mét, có trần tạo thành bới 20 mái hình vòm cung (dome) do những những cầu vòng chống đỡ (arches) bắt vào những cột trụ lớn (30 cái) được dụng đều đặn theo lưới hình chữ nhật. Có 3 lối ra vào ờ những phía Bắc, Đông và  Tây. Bên trong, chính giữa là một bồn nước xây bằng đá hoa cương thời thế kỷ thứ 18, như đã nói ở trên, dùng là nơi để cho những người đi lễ tới rửa ráy cho sạch sẽ trước khi dự cuộc hành lễ. Phía trên là một cửa sổ nằm dưới mái vòm cung trung tâm lớn nhất.

Trên những cột tru có những ghi chép viết chữ to ghi chín mươi tên của Thánh Allah bằng chữ diwani và chữ kufi cùng những hình vẽ baroque của thời thế kỷ thứ 19. Bục giảng nơi người chủ lễ đứng giảng và đọc kinh (minbar hay minber) bằng gỗ đan được trang hoàng hai bên bởi những hình những lằn xéo làm người ngắm có cảm giác như là nhìn lên bầu trời. Đền thờ Ulu Cami có hai tháp ở phía Tây Bắc và Đông Bắc được xây lên bằng gạch bao bên ngoài bằng đá hoa cương.

Trong khi mọi người đứng quanh người dẫn đường nghe người này nói về ngôi đền thờ này, chúng tôi đi loanh quanh xem và chụp vài tấm hình kỷ niệm hình. Nhìn các bà trong nhóm đội khăn trông giống như những bà Hồi Giáo đi lễ, tôi phì cười.

Đứng trong khung cảnh cái nhà thờ này, khó mà có thể phân biệt họ với những người địa phương đi lễ, nhất là khi đứng xa xa mà nhìn. Lúc nãy khi một bà không có khăn đội lên đầu phải mượn cái khăn do anh hồi giáo đứng gác cửa đưa cho mượn, tôi đã dọa đùa:

  • Bà mà đội cái khăn này vào là bao nhiêu chí từ khăn nó sẽ leo sang đầu bà đó!

Chị bạn phát hoảng nói:

  • Anh nói thật hay nói đùa…?

Tôi phì cười làm cho chị ấy biết tôi nói chơi nên nguýt tôi một cái dài. Kể đó cũng là một kỷ niệm vui.

Sau đó tôi thấy chị đứng nhìn những ông Hồi Giáo ngồi cạnh bồn nước ở giũa nhà thờ đánh răng xúc miệng rửa mặt rửa tay, tôi thấy giống một bà Hồi Giáo tôi hỏi:

  • Trông bà giống mấy bà đi lễ quá. Cho tôi chụp một tấm hình kỷ niệm nha.

Chi gật đầu, tôi chụp cái tách. Nhưng không may bi giớ thấy tấm hình mờ quá. Không hiểu thiếu ánh sáng hay tại tay tôi run????

Sau khoảng một tiếng đồng hồ chúng tôi trở ra, ngay trước cửa có cái thùng tương tự như thùng thấy ở các chùa Việt Nam để bỏ tiên cúng chùa vào và bên cạnh là một anh Thổ Nhĩ Kỳ ngồi canh. Phải đi ra hẳn ngoài mới được mang trở lại giầy vào chân, ai nấy mở cái túi nylon – thứ túi đi chợ người ta

bỏ đồ vào cho mình sách - lấy giầy ra đi vào. Anh dẫn đường tụ họp anh em lại và nói cho mọi người được 1 giờ rưỡi đi vào chợ hồi giáo -mang tên Bazaar -, tự do đi mua sắm đồ hay đi ngó cho biết.

Gọi là chợ nhưng thật ra nó là bốn năm con hẻm hai bên là những cửa tiệm bán nữ trang và nhất là bán hàng vải nhiều nhất là khăn choàng cổ. Khăn choàng cổ bằng lụa thứ thiệt tôi thấy bán 80 đô la, một cái khăn/áo chỉ để choàng cổ bằng lông không biết con gì màu đen đẹp quá chừng tôi nhìn mà thấy mê cũng thấy bán giảm giá có 90 đô la trong khi những khăn “dổm” thì chỉ có 3-5 đôla. Chúng tôi đi một quảng thì tới một khu như lồng chợ có mái che hai bên đủ thứ cửa tiệm nhìn tựa như trong shopping mall. Chúng tôi không vào đó mà quẹo vào bên phải có một sân bán cà phê, bàn nghế bầy ra giữa sân, ai muốn ăn bánh uống cà phê thì tới ngồi vào. Tôi buồn tình ngồi xuống kêu một Turkish coffee.

Chờ chừng 10 phút có tách cà phế nhỏ xíu, một cục đường, một cái bánh quế và một chai nước nhỏ. Tất cả có 2 lira Thổ, tức là chừng 1 đôla 25 xu. (1 đôla ăn từ 1.65 cho tới 1.75 lira tùy nơi đổi). Vừa đưa tách cà phê lên gần mũi tôi đã thấy ghê ghê. Nhìn thất kinh, cà phê gì mà nước lờ lợ đục đục không như cà phê bình thường mà lại chẳng có tí mùi cà phê.

Nhưng đã đi xứ Thồ mà không thử cái món cà phê nổi tiếng này thì thật là cù lần, tôi lấy hết can đảm đưa cà phê lên miệng làm một ngụm. Hương vị củ thúc uống như thể nó là thuốc Bắc nhưng mùi hắc hơn. Thế mà một anh bạn đi thổ nhĩ Kỳ về khoe với tôi anh ta đã uống thứ cà phê Thổ này và bảo ngon lắm. Tôi thì thấy thứ cà phê “thổ tả” này phát khiếp.

Tới giờ hẹn 5:15, trời đã xâm xẩm tối, tất cả nhóm chúng tôi tụ tập ở chỗ có cái quán càphê trước nhà thờ Ulu Cani để đi lên xe bus về khách sạn. Chúng tôi tất cả đều đã thấm mệt sau một ngày đi chơi. Từ trung tâm Bursa về tới hotel chiếc xe bus đi một vòng thành phố, hai mươi phút sau mới tới một vùng ngoại ô nhưng đường xá vẫn to và đẹp như ở trung tâm Bursa. Đi thăm Bursa, tôi có cảm giác là Thổ Nhĩ Kỳ là một nước văn minh tiên bộ, người dân rất lịch sự, đi vào chợ mua hàng trả giá không mua, chủ tiệm vận cúi đầu nở nụ cười cám ơn, một sự thể khó thấy ở nơi nào khác trên thế giới.

Hotel to lớn tên Baia là một hotel mới xây cất  với lối kiến trúc tân kỳ ở trong một vùng có nhiều hotels to lớn khác mà chúng tôi đi qua, kể cả Hilton, cách downtown 9 cây số. Baia là tên của một dây chuyền những hotels rất đẹp thuộc loại 4 sao. Chúng tôi lấy phòng và khi mở cửa vào chúng tôi thích thú khi thấy phòng rất rộng, giường king size mới tinh trông rất đẹp mắt. Chúng tôi nghỉ ngơi chừng một tiếng rồi lên lầu tám ăn cơm tối. Bữa ăn theo lới buffet nhưng phòng ăn rất sang và đẹp, những người hầu bàn ăn mặc đồng phục thật lịch sự, thức ăn rất ngon

Ăn xong chúng tôi rủ nhau đi ra phố, trời lạnh, tôi đến một oulet shopping mall đi lòng vòng mua được một cái áo sơ mi màu tím có sọc đen rạt đẹp made in Turkey. Đường ghé một supermarket đi lòng vòng xem cho biết. Supermarket này không thua những supermarket ở bên Mỹ. Rời chỗ này, chỉ bước chừng 300 thước là chúng đã trở về tới hotel,

ngủ qua đêm để sáng hôm sau lại dậy sớm đi thăm thành Troy với con ngựa gỗ mà tôi đã được nghe tên từ hồi đi học Trung học khi nhà trường bắt đọc hai cuốn Illiade và Odyssée của đại văn hào Hy Lạp -  Homère mà nhờ chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ này mới biết , qua người dẫn đường, rằng ông ta đã sống tuổi thiếu niên và lớn lên ở xứ này.

Hướng Dương txđ
12-12-2012

Trở lại Đầu Trang

 

';