Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Việt Nam Đi Về Đâu ?
Bài của Nguyễn Quang Duy



Đại Hội lần thứ VI, đảng Cộng sản Việt Nam đã phải chấp nhận đổi mới thay vì chết. Điều đáng tiếc là đảng Cộng sản lại dưạ vào mô hình Trung Quốc, chỉ thay đổi kinh tế còn giữ nguyên guồng máy cai trị. Sau hơn 20 năm, Việt Nam quay trở lại tình trạng khủng hoảng toàn diện để trước sinh nhật thứ 80 và Đại Hội lần này, ta phải đặt câu hỏi “Việt Nam đi về đâu?”.

Tình Hình Việt Nam Sau Hơn 20 Năm Đổi Mới Kinh Tế

Ngay sau đổi mới kinh tế, người Việt vốn bản tính cần cù chịu khó, lại nhận được nguồn đầu tư dồi dào từ nước ngoài, đã nhanh chóng thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng để vươn đến những thu nhập cao hơn thì giáo dục và huấn luyện kỹ năng là hai yếu tố quan trọng lại không được quan tâm đầu tư đúng mức. Ngày nay Việt Nam vẫn chỉ dựa vào nông nghiệp, kỹ nghệ đơn thuần và tận dụng tài nguyên thiên nhiên.

Khu vực quốc doanh vẫn chiếm trên dưới 20% tổng sản lượng công nghiệp lại nhận hầu hết trợ giúp kinh tế. Việc cải tổ luôn gặp cản trở vì lợi ích cá nhân hay vì lo sợ ảnh hưởng đến an ninh nội chính. Nhiều xí nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá lọt vào tay của một số đảng viên cao cấp hay gia đình, tạo nên một tầng lớp đại gia tư bản đỏ. Tầng lớp này nắm cả độc quyền kinh tế lẫn chính trị nên càng ngày càng trở nên giàu có và quyền thế.

Hiện trạng tham nhũng đã vươn tới tầm mức quốc tế. Vụ các viên chức Viện Tư vấn Thái Bình Dương (PCI) của Nhật Bản hay công ty Securency Úc đã trả cho ông Lương Ngọc Anh hàng chục triệu đô la để đút lót cho các quan chức Việt Nam là vài thí dụ điển hình. Tham nhũng làm giảm khả năng Việt Nam có thể cạnh tranh vốn đầu tư trên thương trường quốc tế. Chỉ còn hấp dẫn những doanh thương lạc hậu dựa vào đồng lương rẻ và sự thiếu vắng một công đoàn độc lập tranh đấu cho quyền lợi lao công. Tham nhũng đã lan tràn đến mọi cơ cấu hạ tầng, trở thành một quốc nạn ảnh hưởng khi trực tiếp, khi gián tiếp đến từng người Việt Nam.

Tức nước thì vỡ bờ, hàng loạt các cuộc đình công đòi tăng lương đòi bảo đảm quyền lao động. Nhiều cuộc biểu tình đã xảy ra ở các vùng nông thôn do việc qủan lý đất đai, tham nhũng của các quan chức địa phương và một cao trào đòi đất của giáo hội Công giáo đã bị đảng Cộng sản cướp sau khi chiếm được chính quyền.

Vùng lãnh hải thuộc kiểm soát của Việt Nam càng ngày càng bị thu hẹp, khiến cuộc sống ngư dân đã bấp bênh, cơ cực lại càng bấp bênh cơ cực hơn. Nhà cầm quyền Việt Nam đã để mặc cho Quân Đội Trung Quốc bắn, bắt, cướp tàu, đòi tiền chuộc khi các ngư dân Việt Nam đánh bắt trên vùng lãnh hải Việt Nam. Trong khi đó tàu đánh cá Trung Quốc lại được tự do ra vào đánh bắt.

Việt Nam ngày nay lệ thuộc vào việc bán rẻ tài nguyên thiên nhiên. Xuất khẩu dầu thô ước chừng 10 tỷ Mỹ kim hằng năm. Việc Trung Quốc tiến hành khai thác bauxite Tây Nguyên, lợi ít hại nhiều, đã gặp phản đối mạnh mẽ cả trong lẫn ngoài đảng. Lần đầu trong lịch sử, một tập thể quần chúng trí thức đồng lòng và công khai ký tên phản đối một “chủ trương lớn” đã được Trung Ương Đảng được Bộ Chính Trị thông qua.

Trung Quốc còn cho xây hàng chục đập thuỷ điện trên thượng lưu sông Cửu Long, đập Tiểu Loan cao nhất thế giới, đe dọa đến cuộc sống của các quốc gia hạ lưu như Lào, Cam Bốt, Việt Nam. Cuộc sống của nông dân Miền Nam đã khổ sẽ khổ hơn. Sông Hồng miền Bắc ngày nay nhiều nơi cạn nước cũng do các đập Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn trước đây. Lời tiên đoán “sông có thể cạn núi có thể mòn” của Hồ chí Minh nay đang được đồng chí đàn anh Trung Quốc biến thành sự thật.

Với trình độ quản lý kinh tế yếu kém, Việt Nam đang dẫn đầu về mức độ lạm phát, nhiều lần phải phá giá đồng tiền, đầu tư và xuất cảng sút giảm, nạn thất nghiệp gia tăng … Người nông dân, ngư dân, công nhân, giới công chức, quân nhân, sinh viên, hưu trí đã nghèo lại nghèo thêm. Đời sống những tầng lớp trên rất bấp bênh, không tương lai, không khả năng đối ứng với đổi thay đột ngột. Vì thế họ đâm ra thờ ơ với mọi vận động dân chủ khi chưa có được niềm tin vững chắc.

Ngược lại, thiểu số đại gia tư bản đỏ thì càng ngày càng giàu có và quyền thế hơn. Hố ngăn cách giữa thiểu số này và đa số dân chúng nghèo khổ đang ngày một sâu hơn. Chênh lệch giàu nghèo đến mức độ không kềm hãm được lại là nguyên nhân cho mọi biến động xã hội - chính trị có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Về an sinh xã hội, Giáo sư Hòang Tụy có bài viết “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng” để quy trách cho cuộc khủng hoảng giáo dục đang ngày càng trở nên trầm trọng. Trong bài viết, giáo sư Hòang Tụy đề cập đến ba điều: (1) Giáo dục sa sút không phải vì thiếu tiền mà vì quản lý kém; (2) cần cải cách có hệ thống chứ không phải đổi mới vụn vặt và (3) Giáo dục không phải là phòng thí nghiệm. Chỉ cần đổi chữ giáo dục thành y tế, văn hóa, tư tưởng, luật pháp… chúng ta sẽ nhận ra ngay ba điều mà giáo sư Tụy đưa ra chính là nguyên nhân cuộc khủng hoảng toàn diện đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Theo Bản Báo Cáo của Viện Đại học Harvard, Việt Nam đã mắc phải sai lầm trong hoạch đinh chính sách. Thay vì hướng đến để trở thành các quốc gia phát triển như Tân Gia Ba, Đại Hàn và Đài Loan. Việt Nam đã theo con đường của Thái Lan , Nam Dương và Phi Luật Tân trước đây. Bản báo cáo cho rằng “sự thành công tùy thuộc vào điều mà mình chọn lựa”.

Viện Đại học Harvard quên rằng Bộ chính trị đảng Cộng sản là tập thể quyết định cho tương lai Việt Nam. Bộ Chính Trị lại bị Trung Quốc khống chế. Thế nên khó có thể Việt Nam sẽ trở thành một Thái Lan, một Nam Dương hay một Phi Luật Tân, mà sẽ trở thành một bán thuộc điạ của Trung Quốc. Vẫn cờ vẫn đảng, nhưng tư tưởng, văn hoá, giáo dục, thì từng bước bị đồng hoá thành một tỉnh nghèo bên Tầu.

Về phong trào Cách Mạng, Khối 8406 một tổ chức quần chúng đấu tranh với “mục tiêu giải thể chế độ cộng sản độc tài toàn trị, giành lại các quyền tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam bằng đường lối bất bạo động”, đã gần vượt qua 4 năm thử thách. Từ chỉ gồm 118 thành viên ban đầu, nay đã tăng lên hàng chục ngàn thành viên gồm đủ mọi tầng lớp. Khối đã được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế công nhận. Nhiều thành viên trong Khối đã bị bắt bớ, tù đày, cô lập. Trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy Khối vẫn tiếp tục con đường đã vạch (Cương Lĩnh Điều 2.4) : “Xúc tiến soạn thảo một Hiến pháp tạm thời và thúc đẩy việc tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ý để Dân tộc Việt Nam được quyền tự quyết, tự lựa chọn thể chế chính trị thích hợp nhất cho mình. Hỗ trợ các Tổ chức, Đoàn thể và các Chính đảng Dân chủ phi cộng sản tổ chức thành công cuộc Bầu cử Quốc hội đa đảng đúng nghĩa dân chủ thực sự đầu tiên để Quốc hội khoá I này biểu quyết một Hiến Pháp Mới làm nền tảng pháp lý vững bền cho Đất nước.

Về tình hình hải ngoại, Chỉ thị số 34-CT/TW cho biết “Theo báo cáo của Bộ Công an, hiện có 413 tổ chức phản động; 62 đài phát thanh và truyền hình, 390 báo và tạp chí phản động và 88 nhà xuất bản ở hải ngoại chống phá ta.” Chỉ thị để lộ khung cảnh đa nguyên, đa đảng, năng động và chống cộng, trong sinh hoạt người Việt hải ngoại. Người cộng sản có thể chiếm miền Bắc trong 10 năm, miền Nam 20 năm, nhưng đã trên 30 năm cộng đồng hải ngoại vẫn là các cộng đồng tự do và chống cộng. Chỉ thị cũng cho thấy cộng đồng hải ngoại càng ngày càng quyết tâm đẩy mạnh tiến trình dân chủ hoá Việt Nam: “Từ sau đại hội X, ta phát hiện thêm 2 đài (Đài tiếng nói thanh niên và Đài Hồn Việt), 5 tổ chức phản động mới và 20 chiến dịch tuyên truyền phá hoại tư tưởng đối với Việt Nam.”

Đảng Cộng sản có quyền, có lực và luôn luôn muốn lấn sân hải ngoại, nhưng càng lấn thì càng lún. Cuối năm nay trước “Đại Hội Việt Kiều” được tổ chức tại Hà Nội, nhưng âm vang chỉ là tiếng còi hú của cảnh sát bảo vệ đoàn “đại biểu Việt kiều”. Đại biểu Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ cho biết ông được công an đón tại phi trường, bảo vệ về nơi tập trung, chăm sóc suốt thời gian Đại Hội và (có thể) được công an tiễn ra tận phi trường ngay sau Đại Hội. Ông Liêm rất hãnh diện được gọi là “triết gia còi hụ” đã tham dự “Đại Hội Hú Còi”.

“Đại Biểu” Lê Thiết Hùng, trưởng đoàn Ba Lan, cho biết “biên giới là vấn đề làm cho nhiều người Việt Nam bức xúc, nhất là người Việt ở nước ngoài”. Đề tài này đã được ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm ủy ban biên giới quốc gia, trình bày. Thế nhưng các đại biểu chỉ được nghe, không được hỏi vì đây là một đề tài “nhạy cảm” liên hệ đến tình hữu nghị với đàn anh Trung Quốc. Một Đại Hội thất bại cả hình thức lẫn nội dung.

Diễn biến hoà bình thật giả ra sao ?

Trong cơn khủng hoảng toàn diện và nguy cơ mất nước, thay vì tìm cách giải quyết, đảng Cộng sản lại xem mọi bất ổn kinh tế, bất ổn xã hội, bất ổn chính trị là hậu quả của chiến lược diễn biến hoà bình do thế lực thù địch gây ra. Thế lực thù địch bao gồm mọi nỗ lực vận động dân chủ để Việt Nam gia nhập cộng đồng thế giới. Việc làm này thách thức độc quyền cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam . Vì thế họ tìm đủ mọi cách, từ trấn áp khủng bố đến tuyên truyền chống lại diễn biến này. Thế nhưng càng chống thì các Nghị Quyết, các Chỉ Thị do đảng Cộng sản ban hành càng để lộ những yếu kém mà họ đang phải đối đầu. Gần đây nhất và cụ thể nhất là Chỉ thị số 34-CT/TW do Ban Bí Thư ban hành nhằm chống lại diễn biến hoà bình, chống tự diễn biến, tự chuyển hoá. Vài phân tích dưới đây cho thấy tình trạng khủng hoảng tư tưởng của đảng Cộng sản Việt Nam .

Về vai trò lãnh đạo đảng, Chỉ thị 34-CT/TW ghi rõ các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng chỉ tay, Chính phủ phủi tay, Mặt trận vỗ tay, Quốc hội giơ tay, dân trắng tay”. Sự thực là “Trung Quốc phẩy tay, Đảng chỉ tay, Chính phủ phủi tay, Mặt trận vỗ tay, Quốc hội giơ tay, dân trắng tay”.

Chỉ thị trên cho thấy kết quả đạt được từ việc chống diễn biến hoà bình rất hạn hẹp và chung chung, “được quan tâm hơn”, “có hiệu quả hơn”, “nắm chắc hơn” hay “được tăng cường hơn trước”. Không cho biết một cách cụ thể như có bao nhiêu mạng lưới diễn đàn thông tin tự do đã được đảng gởi công an mạng tận tình chiếu cố thay miền đổi dạng, tấn công phá hoại, có bao nhiêu nhà báo đã được công an văn hoá tận tình thăm hỏi, có bao nhiêu người mất công ăn việc làm chỉ vì mất niềm tin ở đảng v.v…

Ngược lại, Chỉ thị liệt kê cụ thể, chi tiết những khuyết điểm, những yếu kém, những tác động tự diễn biến trong nội bộ, như: “Kết quả cuộc điều tra dư luận xã hội năm 2007 cho thấy tỷ lệ số người cho rằng “hiện tượng tán phát tài liệu xấu, tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ chế độ là vấn đề bức xúc trong năm” đã tăng từ 17% năm 2006 lên 28% năm 2007; tác động của thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”  tăng từ 22% năm 2006 lên 27% năm 2007. Kết quả cuộc điều tra về tác động của các quan điểm, hành động sai trái, thù địch tới tâm trạng, thái độ cán bộ, đảng viên và nhân dân tháng 01/2004 cho thấy có tới 33% đối tượng cán bộ và 45% đối tượng nhân dân được hỏi đã trả lời: các thông tin xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh đạo của các thế lực thù địch đã tác động lớn đến sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, lý tưởng XHCN trong xã hội hiện nay.

Các cuộc điều tra trên đều đã xảy ra vài năm trước khi Quốc nạn mất Biển Đông hay bán đứng Bauxite Tây Nguyên thực sự bùng nổ. Nếu các cuộc điều tra được tiến hành hôm nay thì kết quả sẽ thấy (không còn là “Một số” mà là) Đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng hoang mang, dao động mất phương hướng, giảm sút lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, hoặc muốn đi theo hướng phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa.”

Chỉ thị cũng cho biết đã :“Xuất hiện một bộ phận học sinh, sinh viên thiếu lòng tin vào con đường đi lên CNXH và công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo”.   Nhiệm vụ thứ bảy của chỉ thị nêu rõ: “… đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ “Tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên ở cả Trung ương, các ngành, các cấp, các địa phương.” Lộ ra nỗi lo sợ diễn biến hòa bình đã và đang xẩy ra ở cả cấp trung ương đảng.

Trí thức, báo chí và quân đội là ba thành phần chủ lực trong công tác tư tưởng và bảo vệ đảng nay đã có nhiều dấu hiệu ngược lại. Người viết đã phổ biến 3 bài phân tích từng thành phần nêu trên xin được tóm tắc như sau:

Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) là thí dụ cụ thể nhất tiêu biểu cho tầng lớp trí thức. Nhiều người trong viện lâu nay nằm trong guồng máy đảng và nhà nước, biết nhiều sự thật nội bộ, vừa có trình độ nghiên cứu được quốc tế công nhận, vừa biết trình bày và thông tin kết qủa nghiên cứu, nên được nhiều người trong cũng như ngòai đảng cộng sản lắng nghe và tin theo. Có người đã tích cực đóng góp trong quá trình đổi mới kinh tế sau Đại Hội VI. Viện tập trung nghiên cứu về kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội… khổ nỗi dưới sự cầm quyền của đảng Cộng sản, Việt Nam càng ngày càng lâm vào khủng hoảng toàn diện, đời sống dân chúng thì mỗi ngày một tệ hại hơn. Kết quả những công trình nghiên cứu thường phơi bày sự thật rất trái ngược với luận điệu tuyên truyền của đảng. Sự thật lần hồi phá vỡ nền tảng và cơ cấu quyền lực, dẫn đến tình trạng khủng hoảng tư tưởng mà đảng Cộng sản gọi là “diễn biến hoà bình”.

Trong lĩnh vực báo chí Chỉ thị 34-CT/TW nêu rõ: “Thời gian qua, có một số lãnh đạo và báo chí, phóng viên đã bộc lộ tư tưởng báo chí đối lập với Đảng, quá nhấn mạnh vai trò “phản biện” và lạm dụng “quyền lực xã hội” để đưa các bài viết công kích sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.” Hai năm 2008 và 2009 vừa qua là những năm đại hạn của nền báo chí Việt Nam. Nhiều nhà báo bị tạm giam, bị bắt hay mất việc, nhiều Tổng biên tập bị thay đổi, nhiều tờ báo bị đóng cửa cũng chỉ vì thông tin trung thực khách quan và toàn diện trái ngược với tuyên truyền chính thống và như thế đương nhiên bị coi là chống đảng.

Đa số cán bộ trung và cao cấp trong quân đội đều trưởng thành trong cuộc chiến tại Cam Bốt và cuộc chiến chống bá quyền Trung Quốc. Về quốc sự, họ có cách nhìn và suy nghĩ khác với thiểu số cầm quyền cộng sản. Vì thế Bộ Chính trị (khóa IX) đã phải ban hành Nghị quyết 51 tiến đến việc thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội theo đúng khuôn mẫu đảng Cộng sản Trung Quốc. Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 17/12/2009, Trung tướng, Tiến Sỹ Nguyễn Tiến Quốc, Chính uỷ Học viện Chính trị cho biết “Vẫn còn một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì chưa nhận thức đúng, đầy đủ và rõ ràng về Nghị quyết 51...” Một dấu hiệu cho thấy giới quân nhân đã đặt trung với Tổ Quốc lên trên việc trung với đảng, thách thức quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản, khi đảng này đang cấu kết với Trung Quốc đi ngược quyền lợi dân tộc. Tạo cho đảng Cộng sản nỗi lo sợ quân đội sẽ đứng về phiá người dân để giành lại các quyền tự do cho toàn dân tộc.

Nói tóm lại, từ trung ương đến cơ sở, từ trong đảng đến ngoài dân, từ trí thức đến quân nhân, cả người trẻ lẫn người già đều mong muốn, đều đòi hỏi những thay đổi chính trị để đất nước Việt Nam có thể vẹn toàn và dân tộc có thể hoà nhập cộng đồng thế giới.

Đại Hội VI, đảng Cộng sản vì lo sợ sự phát triển của hai đảng Dân Chủ và Xã Hội dẫn đến đa nguyên đa đảng nên đã ra lệnh giải tán hai đảng này. Đại Hội lần này và kỷ niệm 80 năm thành lập, đảng lại mang tai mang tiếng đang thẳng tay đàn áp đảng Dân chủ phục hoạt.

Theo cáo trạng của công an, các đảng viên đảng Dân chủ đã chủ trương diễn biến hoà bình bằng cách cộng tác với thành phần cấp tiến trong đảng Cộng sản để thực hiện cương lĩnh đảng Dân chủ (Điều 4 – Phần I) là “Thực hiện quyền ứng cử và bầu cử tự do, công bằng, trung thực (có quốc tế giám sát) để xây dựng một Quốc hội mới, một Nhà nước mới thực sự của Dân, do Dân, vì Dân. Quốc hội mới sẽ xây dựng một Hiến pháp mới thực sự dân chủ, một hệ thống luật pháp mới thực sự công minh”. Ngày 28/12/2009, trước toà án tỉnh Thái Bình ông Trần kim Anh hùng hồn tuyên bố: "Tôi tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Khối 8406 để đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền thông qua đối thoại hòa bình và hình thức bất bạo động."

Những ngày sắp tới các đảng viên đảng Dân chủ gồm anh Nguyễn Tiến Trung, các ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long và các bà Lê Thị Thu Thu, Trần Thị Thu, Cù Thị Phương sẽ ra đưa ra toà vì tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Vụ án này đã đang và sẽ tiếp tục là đề tài cho thế giới biết thêm sự thật về nhà nước pháp quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đảng Cộng sản Việt Nam .

Chỉ trước Đại Hội VI một năm, vào ngày 2/01/1985, nhà cầm quyền Việt Nam đã hành quyết dã man 19 liệt sỹ kháng chiến quốc gia trong Mật Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Gỉai Phóng Nam Việt Nam. Vài ngày sau 8/01/1985, liệt sỹ Trần văn Bá, một trí thức trẻ từ Pháp về lãnh đạo, cũng đã bị hành quyết bất chấp sự can thiệp của chánh phủ và chánh giới Pháp. Ngày nay đảng Cộng sản chỉ sử dụng toà án và bản án tử hình để đe doạ các hoạt động đấu tranh.

Cũng vậy chỉ vài năm trước đây, vì dịch bài “What is Democracy?” trên website của Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã bị nhà cầm quyền cộng sản tuyên án 10 năm tù và 3 năm quản chế. Ngày nay, dịch, viết và quảng bá cho sự thật là việc làm xảy ra thường xuyên của nhiều thành viên đang vận động dân chủ. Có so sánh như thế mới thấy đảng Cộng sản càng ngày càng co rụm, sợ hãi dư luận mất dần độc quyền tuyên truyền độc quyền kiểm soát tư tưởng và mất dần quyền năng trấn áp các lực lượng đấu tranh. Có so sánh như thế mới thấy rõ thành quả và tiến trình của công cuộc đấu tranh chung.

Diễn Biến Hoà Bình là Sự Thật

Cụm từ “diễn tiến hoà bình” càng ngày càng được nhà cầm quyền cộng sản sử dụng một cách thường xuyên hơn. Chỉ riêng Chỉ Thị 34-CT/TW người viết đã đếm được 28 lần cụm từ này xuất hiện. Nhiều lần các cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” cũng xuất hiện. Như vậy “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã được đảng Cộng sản xác nhận là thách thức lớn nhất đối với độc quyền cai trị từ bên trong hệ thống.

Sự sống còn của đảng Cộng sản dựa trên nền tảng giả dối, biạ đặt và tuyên truyền. Trong khi đó, diễn tiến hoà bình là quá trình tìm kiếm sự thực và truyền bá thông tin sự thật đến quảng đại quần chúng. Sự thật bao gồm từ những điều xẩy ra trong đời sống hàng ngày đến những sự thật lịch sử. Riêng sự thật lịch sử là chỗ dựa cuối cùng mà đảng Cộng sản đang cố công bám giữ. Đẩy mạnh diễn biến hoà bình hay đẩy mạnh quá trình quảng bá sự thật sẽ từng bước phá tan nền tảng quyền lực cuả đảng. Nhờ đó người dân sẽ từng bước giành lại các quyền tự do cho chính mình, nhất là quyền được yêu nước chống xâm lăng Trung Quốc trong hoàn cảnh hiện nay.

Việt Nam Đi về Đâu ?

Hai mươi năm trước, dân chúng các quốc gia Âu Châu bị cộng sản chiếm đóng đã đứng lên giành lại tự do. Bốn yếu tố chính giúp cho các dân tộc này thành công là (1) số nhỏ nồng cốt lãnh đạo (2) đòi hỏi bức thiết từ phiá dân chúng (3) đồng thuận từ bên trong giới cầm quyền và (4) tình hình thế giới với xu hướng dân chủ hoá toàn cầu không thể cưỡng lại.

Bài viết này chỉ thấy ngoại trừ một thiểu số cầm quyền có thể chấp nhận Việt Nam trở thành một bán thuộc địa Trung Quốc. Đaị khối dân tộc đang từng bước đồng thuận con đường duy nhất phải tới là giữ toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải và dân chủ hoá để hội nhập toàn cầu. Bốn yếu tố được nêu bên trên càng ngày càng thuận lợi cho đaị khối dân tộc. Một yếu tố khác là chiến tranh với Trung Quốc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, vì thế công cuộc dân chủ hoá Việt Nam cần chủ động hơn.

Để có thể chủ động được thời cuộc, các đảng phái, các tổ chức, các khối, các nhóm, các nhân sỹ cần đồng tâm ngồi lại với nhau để thảo luận, để sọan ra một Dự Thảo Hiến Pháp. Dự thảo này sẽ là nền tảng để xây dựng một chính phủ dân chủ, hiến định và pháp quyền. Sẽ quy định các nguyên tắc xây dựng quyền lực cho chính phủ, các giới hạn của chính phủ và đề ra các thủ tục họat động cơ bản cho chính phủ. Là nền tảng xây dựng các chính sách xã hội, giáo dục, chính trị, kinh tế, văn hoá, ..., các quyết định pháp lý và các đạo luật quốc gia. Dự Thảo Hiến Pháp này sẽ giúp:

1. xây dựng và sửa sọan một hướng đi, đưa dân tộc chúng ta, một cách bình thường và bình đẳng hội nhập vào cộng đồng thế giới;

2. phương tiện đấu tranh cho dân chủ quyết liệt trong ôn hòa bất bạo động;

3. giáo dục đại chúng về các quyền các bổn phận cá nhân và chính phủ;
4. là giải pháp ít rủi ro nhất cho các đảng viên đảng cộng sản, vì khi bị áp bức đến cùng cực, cách mạng bạo lực ắt sẽ xẩy ra; và

5. làm căn bản cho một Quốc Hội Lập Hiến cứu xét và đưa ra trưng cầu dân ý.

Người viết tin rằng đây không phải là một việc khó làm vì qua bài viết này ít nhất Khối 8406 và đảng Dân chủ đều có cùng chủ trương. Cái khó nhất là làm sao chúng ta có thể xoá bỏ sự khác biệt để cùng nhau hướng đến việc chung: Việt Nam phải Tự Do và Dân Chủ.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
06/1/2010

Trở lại Đầu Trang