Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

LUYẾN NUỚC ĐAU LÒNG CON QUỐC  
Bài của Phan Viết Phùng



Tôi yêu nước Mỹ vì nước Mỹ được cấu tạo bởi tinh thần quật cường của dân chúng Mỹ, bởi nền văn hóa Kitô, bởi đức tính thông minh chính trực của các vị lập  quốc, là những vị thông suốt nền văn học cổ Hy Lan và rút tỉa trong đó những bài học cơ bản về chính trị và xã hội.Và vì nước Mỹ là nước đầu tiên đã giành được tự do toàn vẹn và nhờ sự tự do ấy đã trở nên phồn thịnh bậc nhất thế giới, xứng đáng làm gương mẫu cho những dân ước mong tiến bước trên đường văn minh. Nước Mỹ cao sang lại có nhiều cảnh trí xinh đẹp nhưng tôi ở Cali đã lâu mà chưa hề đi ngắm cảnh Lake Tahoe, Yellow Stones, Hawaii, vì người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, vì  nước Mỹ không phải là quê hương gốc rễ của tôi mặc dầu tôi đã sống ở Mỹ hơn nửa thế kỷ.Quê hương tôi dặm nghìn nước thẳm non xa. Bên trái bàn giấy của tôi có bản đồ Việt Nam treo trên tường.  Đó là mảnh đất của tôi và của 70 triệu đồng bào, do tổ tiên tự ngàn xưa lối lại, không những giang sơn gấm vóc mà cả một quá khứ lẫy lừng hiển hách ngất cao trên vùng trời Đông Á, mảnh đất vừa lành vừa đậm vết tích của biết bao thế hệ anh hùng, một nền văn hóa cao siêu tao nhã, xưa kia là cỗi nguồn văn hóa của các dân Đông Á.

Vẻ đẹp của đất Việt Nam chính người Việt coi thường, nhưng người bốn phương không tiếc lời ca ngợi.  Ông Zigmund Karpinski là một phi công Phô lan thời thế chiến II. Sau khi Phô Lan bị Đức và Nga cưỡng chiếm ông và đồng đội bay sang Anh, gia nhập Không lực Hoàng gia.  Sau chiến tranh ông sang định cư ở Mỹ, làm nghề dạy đại học. Tôi gặp ông cuối thập niên 50.Ông kể chuyện một bạn đồng đội lãnh công tác bay thường xuyên dọc bờ biển Đông Á.Người ấy nói với ông rằng không có chỗ nào đẹp bằng bờ biển Việt   Nam.

Nói bờ biển VN là hầu như nói toàn thể đất VN, vì ngoại trừ hai châu thổ Hồng Hà và Mê giang VN là một giải đất dài và hẹp.Bay dọc bờ biển dài 1500 dặm người ta không những thấy vô số danh lam thắng cảnh dọc bờ biển mà cũng thấy núi non hùng vĩ ở phía tây, rừng sâu xanh rờn của giải Trường Sơn và các giải Hoành Sơn với cỏ cây chen đá lá chen hoa.Giữa biển và rừng là một mạng lưới sông lạch chạy theo chiều ngang của nước VN.Vì địa thế ấy toàn dân Việt sống gần biển và hải sản, đồng thời gần rừng và lâm sản.Dân VN ăn nhiều cá ít thịt là điều rất tốt cho thể xác.Hơn nữa gạo và nếp tốt hơn lúa mì, lại là thứ ngũ cốc mà tổ tiên dùng làm bánh chưng vuông bánh dầy tròn, món ăn quốc gia biểu tượng Đất và Trời.

Đó chỉ là di sản hữu hình. Di sản tinh thần và văn hóa lại càng cao quý xinh đẹp.Tổ tiên lưu lại trong giòng máu Việt một tinh thần quật khởi bất khuất, cần cù nhẫn nại, an hòa đạo đức, trọng nghĩa khinh tài, và thêm một quá khứ lẫy lừng với biết bao chiến công oanh liệt.Suốt giòng lịch sử bốn ngàn năm VN là một miếng thịt trăm dao xâu xé (Phan bội Châu).  Sự tồn tại cho đến ngày nay là một bằng chứng hùng hồn về chí kiên cường sức dẻo dai của dân tộc Việt.

Tính chất anh dũng của Việt tộc, người bốn phương ít nghe nói; mà có nghe thì cũng khó tin vì nó quá kiệt xuất.Nhưng người Việt bắt buộc phải biết và không được phép bỏ quên.Chí kiên cường dũng cảm của nòi giống Việt được biểu hiện rõ rệt nơi 18 vị Hùng Vương và nhiều vị lãnh đạo khác đã dựng nước và giữ nước bằng nhiều chiến thắng chống nỗ lực xâm lăng và uy hiếp của ngoại bang.

Năm 40 SK (sau Kitô) quân của nhà Đông Hán bị hai phụ nữ Việt là Trưng Trắc và Trưng Nhị trục xuất khỏi 65 thành trì.. Năm 248 bà Triệu cưỡi voi cầm quân đánh bọn Đông Ngô tham tàn ác độc và bổ vây sáu tháng.Năm 938 Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán trên sông Bạch đằng, rồi xưng vương, chấm dứt thời kỳ một nghìn năm Bắc thuộc.

Thời  nhà Trần tổng chỉ huy quân đội là Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) đánh bại quân Mông ba lần.  Đó là những đạo binh rất thiện chiến và điêu luyện.Đế quốc Mông thời ấy trải dài từ Trung Á châu đến sông Dnepr phía tây nước Nga.Sau khi diệt nhà Tống bên Tàu và lấy hiệu là nhà Nguyên, quân Mông kéo sang đánh VN ba lần, mỗi lần thất trận nặng nề.Đó là những năm 1257, 1282 và 1287.Nhờ có kỳ tài quân sự và được toàn dân ủng hộ trong Hội nghị Diên Hồng, Trần Hưng Đạo cả ba lần tiêu diệt quân Mông hầu như toàn bộ.

Năm 1418 đang lúc dân Việt khổ nhục đến tột độ anh hùng Lê Lợi  dấy quân ở Lam Sơn, tự xưng là Bình định Vương, đánh quân nhà Minh gần mười năm.Khoảng 1420 ông Nguyễn Trãi dâng Bình Định Vương một sách lược bình Ngô.  Vua cho là hay và dùng Nguyễn Trãi làm tham mưu.Năm 1427 Bình Định Vương dẹp xong giặc Minh, sai Mguyễn Trãi làm bản báo cáo cho thiên hạ biết.Đó là tờ Bình Ngô Đại Cáo.

Năm 1788 vua Quang Trung đem đại quân ra Bắc đánh quân nhà Thanh, ra lệnh cho tướng sĩ ăn Tết sớm để đến hôm trừ tịch sẽ cất quân và đến ngày mồng Bảy Tết sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng.  Ba quân của Quang Trung tiến vào quá nhanh, các đồn của quân Thanh không kịp ứng phó.Tại bản doanh Thăng Long ba tướng tử trận, một tướng tự thắt cổ.Chính Tôn sĩ  Nghị, tổng chỉ huy, nửa đêm chồm dậy chỉ kịp chạy thoát thân. Xong mọi việc vua Quang Trung sai sứ sang nhà Thanh cầu phong; nhưng mục đích chính thực là để có thời gian chuẩn bị một cuộc đòi lại Lưỡng Quảng.  Ngoài các vấn đề chính trị, quan chế, đinh điền, vua chú trọng việc tuyển mộ và luyện tập binh sĩ.Vua cũng giao cho ba tướng là Trần Quang Diệu cùng vợ là Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng sứ mạng đem quân sang đóng bên Lào, chờ lúc vua dấy quân ở Lưỡng Quảng thì vào đánh phá ở Vân Nam không cho quân Tàu dồn toàn quân lực vào Lưỡng Quảng.  Khi mọi sự đã sẵn sàng thì không may vua ngã bệnh và mất.

Sự nghiệp nhà binh và chiến công lừng lẫy của các vị lãnh đạo trên đây biểu lộ một tinh thần tự chủ tự quyết, kiên cường, tài trí, tức là mình làm chủ mình, có tài trí để tự quyết, không lệ thuộc không hề khuất phục lực lượng nào ở ngoài.  Đó là những đặc tính của văn hóa Việt tộc. Vì ảnh hưởng của thời  Bắc thuộc người Việt đã phần nào lãng quên văn hóa nguyên thủy của mình.Nhưng thời nay nhờ công trình khảo cứu của triết gia Kim Định một số người đã biết nguồn gốc đích thực của dân tộc Việt và văn hóa Việt.  Dân tộc Việt không phải là một chi nhánh của Hoa tộc.Việt tộc thiên di vào lục địa cách đây khoảng 7 nghìn năm, trước Hoa tộc khoảng một nghìn năm.Thời ấy Việt tộc đóng vai chính trong bước tiến từ thời đại thạch khí sang thời đại kim khí của các dân Đông Á.  Đồng thời văn hóa của Việt tộc là cỗi rễ của các văn hóa sơ thủy ở Đông Á.

Văn hóa của Việt tộc, cũng gọi là Việt Nho được gói ghém trong quan niệm Tam tài Thiên Địa Nhân. Nhân là sự phối hợp giữa Thiên và Địa; trong Nhân có chất Thiên và chất Địa, dung hòa cân xứng với nhau.Mà vì Thiên Địa (quẻ càn, quẻ khôn) là tất cả càn khôn vũ trụ thì Nhân là chủ là vua mọi sự, không chịu sự chi phối của bất cứ lực lượng nào.Điều nầy nhắc ta về lá cờ nền vàng ba sọc đỏ.  Vàng là màu vương giả, chức vị cao sang uy quyền nhất.  Ba sọc đỏ chỉ ba miền Bắc Trung Nam; ba sọc đỏ cũng là quẻ càn, chỉ cái gì cao trọng đáng tôn kính như Trời, Vua.Nhưng ý nghĩa sâu sắc hơn cả là ba sọc đỏ chỉ Tam tài Thiên Địa Nhân, tức là văn hóa của Việt tộc.Hóa ra cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng Việt tộc từ khi Việt tộc có văn hóa Việt Nho và sống ở lưu vực sộng Dương Tử.

Văn hóa được lưu truyền qua ngôn ngữ.Việt Nam tất nhiên có ngôn ngữ, một ngôn ngữ, nhưng đây xin phép tạm gọi là hai.Một ngôn ngữ thông thường từ khi có Việt tộc tới nay; không có văn tự cho đến thời Hàn Thuyên chế ra chữ nôm và sau đó chữ nôm được thay thế bằng mẫu tự Rôma.Ngôn ngữ thứ hai có văn tự từ thời thượng cổ, cái mà bây giờ người Hoa gọi là Hán tự và người Việt gọi là chữ Nho.Đấy là ngôn ngữ chung của Việt và Hoa.  Nói là chung vì ba lý do.Thứ nhất, người Việt đã dùng ngôn ngữ ấy suốt mấy nghìn năm, dùng như của mình để sáng tác, ghi chép lịch sử và mọi văn kiện quan thức.  Thứ hai, một nhóm người Việt tiên khởi chế ra văn tự theo lời yêu cầu của vị hoàng thứ ba tên là Hoàng Đế, gốc Hoa.Kết quả là một hệ thống văn tự thô sơ đơn giản nhưng được cải tiến bổ túc dần dà về sau.Thứ ba, khi Hoàng Đế giao cho người Việt sáng chế văn tự thì ông muốn nói văn tự cho ngôn ngữ nào?  Chẳng lẽ ông muốn người Việt sáng chế văn tự cho Hoa ngữ.Vậy ta phải kết luận là sáng chế cho ngôn ngữ chung, ngôn ngữ Hoa Việt.  Hai dân tộc sống với nhau trên lục địa hàng ngàn năm, có lúc đụng độ quân sự, có thời kỳ sống  chung hòa bình, hợp tác với nhau về nhiều phương diện; đặc biệt là Hoa tộc rất khâm phục và hăng say tiếp thụ văn hóa Việt tộc.Vậy không có gì lạ nếu hai tộc nói một ngôn ngữ chung gồm có những từ gốc Việt và những từ gốc Hoa.Vì thế hiện giờ ta thấy vô số (không kể xiết) những từ rất thông dụng trong đời sống hằng ngày của dân chúng Việt mà có trong Nho ngữ với phát âm y nguyên hoặc đổi khác tý chút.

Đấy, Việt tộc là như thế. Văn hóa, minh triết, tài ba, chiến pháp của Việt tộc xưa kia là như thế. 

Nay dừng chân ngảnh lại trời non nước,
Một khối tình thâm nước với ta
(Bà Huyện Thanh Quan).

Quá khứ huy hoàng vinh hiển bao nhiêu thì hiện tại đen mờ tủi nhục bấy nhiêu.  VN không còn là một dân tộc cao sang, một quốc gia độc lập. Dân Việt đang bị chà đạp dưới gót giầy CS, là bầy tôi của thế lực đàng sau CS, hoặc tản mác khắp năm châu bốn bể.

Khi sao phong gấm rủ là,
giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Và ta gậm một mối căm hờn trong cũi sắt, ta nằm dài trông ngày tháng dần qua (Thế Lữ).Đường đời đã đến đây thì bước sau phải theo hướng nào?  Bước sau của con Rồng cháu Tiên không thể là gì  khác ngoài việc dựng lại cơ đồ, giành lại đất nước độc lập tự do, ngoài việc hy sinh cố gắng, chung sức chung tài, ra công tìm hiểu để chọn đúng phương thức đấu tranh.  Nhưng có một việc tối cần, nếu không có thì hãy quên xả mọi việc vừa kể. Đó là việc bảo trì tinh thần quốc gia dân tộc nơi thế hệ ngày nay và vun trồng tinh thần ấy nơi thế hệ ngày mai.  Việc ấy càng cấp thiết nếu ta chú ý xem kẻ thù của tự do đang áp dụng mọi phương pháp để dần dà tiêu diệt tinh thần quốc gia dân tộc, chuẩn bị cho một thế giới đại đồng, vô quốc gia vô tổ quốc, tất cả đồng đều không những về kinh tế kỹ nghệ, mà cũng đồng đều về pháp luật, cưỡng hành pháp luật, về tiền tệ, thuế suất.Để phát huy tinh thần quốc gia dân tộc thì tất nhiên phải ý thức về nguồn gốc và quá khứ của dân tộc.Vô tri bất mộ là lẽ dĩ nhiên.

Nhắm mục đích truyền bá ý thức về dân tộc và lòng mộ mến dân tộc, Ban Phổ biến Văn hóa Cổ truyền Việt nam, do bà Trùng Quang cầm đầu, mới xuất bản sách Phụ Chú Bình Ngô Đại Cáo.  Nửa đầu trình bày hai bản nguyên văn chữ Nho, có phần phiên âm và phần phiên dịch; một bản phiên dịch; một bản lược dịch bằng Anh ngữ; một bản lược dịch bằng thơ thất ngôn lục bát của bà Trùng Quang; và bài vận văn của Tản Đà về Bình Ngô Đại Cáo. Nửa sau gồm một số bài về đại danh nhân Nguyễn Trãi, tác giả của Bình Ngô Đại Cáo.

Trong văn kiện lịch sử nầy tác giả trình bày nỗ lực của toàn dân và cuộc chiến thắng quân Minh để nêu ra nững nguyên tắc căn bản về xã hội loài người; những nguyên tắc mà hiện giờ gần sáu thế kỷ sau các nhà lãnh đạo chính trị cần thấu hiểu và tuân giữ để khỏi gây ra hỗn loạn, binh đao, khổ cực. Thứ nhất là quan niệm quốc gia dân tộc và chủ quyền: nước ta xưng văn hiến đã lâu, sơn hà đã quy định; nước ta đã giành được độc lập và chủ quyền từ lâu; vi phạm là phá trật tự thiên nhiên trong xã hội loài người.Thứ hai, tàn ác, tham nhũng, bóc lột, chà đạp nhân quyền như quân Minh đối với dân Việt và nhiều trường hợp khác thời nay, rốt cuộc không thoát được lưới trời.Thứ ba, quan niệm dân chủ của Nguyễn Trãi là vua thay Trời trị nước, khác với quan niệm Thiên tử thường dẫn đến chuyên chế. Thay Trời tất nhiên chịu trách nhiệm với Trời về sứ mạng của mình, mà sứ mạng của mình là việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, không phạm đến quyền lợi của dân, mọi sự đều vì dân, cho dân và do dân.Như vậy quân chủ mà thực sự là dân chủ, thứ dân chủ đích thực.  Thời nay cũng có những chính thể dân chủ hoặc dân chủ pháp trị (cộng hòa), nhưng đó chỉ là những quan niệm thuần túy chính trị nhân tạo, không căn cứ vào một quyền uy tối thượng như quan niệm cửa Nguyễn Trãi.

Phổ biến sự hiểu biết về quá khứ huy hoàng của dân tộc là điều kiện bất khả khuyết.Mong nỗ lực nầy vẫn tiến triển luôn mãi.Ngoài ra sống ở hải ngoại là cơ hội tốt để hiểu rõ tình hình của cuộc đấu tranh.Đại khái tình hình là kẻ thù có những vây cánh rất nhiều thế lực; bởi vậy người Việt cần có sự đồng tâm nhất trí.  Nhưng đang lúc nước nhà tan hoang, đồng bào thống khổ, mộng tự do thanh bình còn xa vời thì đồng bào hải ngoại chia rẽ mà chi, xung khắc mà chi cho thêm đau lòng con quốc lưu vong, cho ta góc bể chân trời, trông vời cố quốc biết đâu là nhà. Thực trạng bây giờ là các cộng đồng hải ngoại mang bệnh chia rẽ trầm trọng. Nếu các đoàn thể chỉ hoạt động riêng rẽ, ít nhịp nhàng với nhau thì cũng đủ cho đại cuộc thất bại. Phương chi là chia rẽ, xung khắc, cản trở nhau. Thiết tưởng có bốn nguyên nhân chính gây ra chia rẽ:

Một là thiếu sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện về các vấn đề liên quan đến đại cuộc.  Nếu mỗi người chỉ biết một bộ phận của con voi thì sẽ cãi nhau inh ỏi khi thảo luận về con voi.

Hai là tự đắc,không cố mở rộng tầm nhìn của mình, cho quan điểm của mình hay hơn đúng hơn của kẻ khác.

Ba là tham chức quyền danh lợi, đặt mình trên hết, trên cả chính nghĩa của  quốc gia dân tộc, coi cuộc đấu tranh là môi trường cho cá nhân mình thăng tiến; một chính phủ, một tổ chức quản trị là chỗ cho mình  tìm kiếm chức vụ,  len lỏi, chạy chọt, giật dây, kể cả những hành vi tai hại cho quốc gia hay cho cuộc đấu tranh; chẳng hạn cộng tác với CS mong nó cho mình chức nọ chức kia. 

Bốn là thiếu ý thức về mưu đồ CS xâm nhập cộng đồng để phân hóa thao túng và phá hoại cộng đồng.

Tâm trạng ấy là nguyên do chính gây ra thảm họa mất Miền Nam và hiện giờ là trở ngại lớn cho cuộc đấu tranh giành lại đất nước, khiến cho triển vọng một VN tự do hạnh phúc vẫn mịt mờ.Trước tình trạng ấy kẻ xa quê sao khỏi bùi ngùi thổn thức: Tấc lòng cố quốc tha hương, dường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời; xung quanh những nước non người, đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu. 

PHAN VIẾT PHÙNG                                                                                                                                                       

Trở lại Đầùu Trang