Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

HÁN HỌC Ở BÊN PHÁP



Kính thưa Bác*,

Cám ơn Bác đã có nhã ý gửi bài của Ông Phan Khôi. Bài rất hay đã phân tách rõ ràng cách học theo bằng cấp và thực học của sĩ phu, trí thức….. Việc này Khổng tử dã đề ra mà trong sách « les spiritualités orientales…… » của tôi có nhắc đến :
« Apprendre pour le savoir » - « Apprendre pour le plaisir » - « Apprendre dans la joie et la passion ».
Ngay trong Đạo Phật chúng ta đã thấy sự học đuợc phân chia ra nhiếu cấp tạm gôm lại thành 03 loại : la Connaissance (Giác Ngộ) – Le Savoir à fond (Thấu Triệt) - le Pseudo Savoir; le Faux Savoir ; le Demi-Savoir ; le Savoir erroné …..è Vì vậy các cụ ta thuờng nói « Dốt dặc hơn hay chữ lõng » hoặc « Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe ».

Vì lối học từ chuơng (savoir textuel) dã làm cho bao nhiêu đánh gía sai lầm về Tam Đạo rất là tai hại vừa đáng tiếc :
** Đạo Khổng dã trở thành gò bó, hủ lậu (archaïque) không có gía trị gì cho xã hội tân tiến. Tại Pháp nhiều triết gia mô tả Confucianisme comme un principe du juste milieu chính thật là principe de l’équité với ví dụ cụ thể : « Rendre le Bien pour le Bien et la Justice pour leMal » (Dĩ Đức báo Đức – Dĩ Công báo Oán).

Cái Hán học theo « nghĩa lý » của Cụ Phan Khôi nói dúng quá. Cái học « từ chuơng » ghép học gỉa theo con duờng dã di bởi các danh nhân, tiền bối … mà không hiểu rằng mọi sự việc dều « vô thuờng » như Đạo Phật hoặc Kinh Dịch dã nói, quan niệm này thật sai lầm nếu dem ra làm kinh tế, trị dân hoặc xây dựng lại dất nuớc. Tất cả cái hay của các danh nhân hay vĩ nhân chỉ nên dùng làm bài học dể tạo cái kiến thức, dể gây cái chí huớng và tim con duờng đi hợp với sự xoay vần của xã hội, của thế giới và  của nhân loại….

Trong thơ của Ong bạn Cụ Phan Khôi nói rất dúng về hiểu sai biệt giữa l’Intuition de Bergson (1)  và  la Conscience intuitive de Confucius (2).
Issue de l’instinct pour arriver à une solution dans l’immédiat sans se baser sur des savoirs et des études approfondies.
« Tâm đắc » – « Tâm truyền » : Đây là truờng hợp dã thấu triệt duợc thâm ý của Đạo (giống như Giác Ngộ  bên Đạo Phật) và tiến vào subconscience của nguời học… pour  arriver à trouver immédiatement une bonne solution au problème sans recourir à la logique, ni aux doctrines étudiées – Cùng một ý niệm (principe fondamental), theo Đạo Phật khi dã Giác Ngộ (Eveil ou Esprit spirituel du Bouddha) thì phải buông hết (Vacuité = chữ toàn diện) các giá trị tuơng đối kể cả « Tam Bảo » vì phải xem dây là phuơng tiện (Valeurs relatives : chiếc thuyền dùng qua sông sau dó thì phải bỏ lại) dưa tới Giác Ngộ (Tâm Đắc), cho dó không phải gía trị Thật (Valeurs Absolues) của Phật (Niết Bàn) (3).
Cũng vì vấn dề này quá khó hiểu dối dại da số Trí Thức Khoa Bảng chứ dừng nói dến dân chúng nên Hàn Phi Tử (Khổng học) cũng không dồng ý với Không Tử trên nhiều phuơng diện nhất là phuơng diện áp dụng thực tế cần có kết quả ngay (projets pour les courts et moyens termes).

Trong thơ này dã dùng dến chữ « xuyên tạc » xem ra cũng hơi quá dáng dối với các nhà trí thức Pháp. Theo tôi nhận xét thì thuờng các nhà trí thức nấy rất hãnh diện về lối « raisonnement par abstraction » vì nó không có giới hạn (sans espace temporel) nên có vị đi dến quá trớn ( Ex. : la psychanalyse de Dieu avant le Big Bang – une affirmation gratuite du philosophe A. Comte-Sponville : la conception de la mort en Occident est transcendantale et très supérieure à la démarche d’une mort paisible préconisée dans le Bouddhisme). Như quan niệm của Đạo Phật, tôi xem tất cả phát xuất từ con nguời trí thức hay không dều chi phối bởi « la subjectivité – l’imagination – l’illusion ». Surtout en France on ne trouve pas d’équivalent dans le langage, on est dominé, conditionné par les philosophies judéo-chrétiennes mais parfois par vanité on réagit mal avec préméditation devant une logique différente : « xuyên tạc  ».  

** Đối với A Đông, Đạo Lão (kể cả Kinh Dịch) dã trở thành bói toán, thần tiên, hoang duờng, dị đoan, viển vông đi nguợc lại duờng tiến hóa của xã hội tân tiến. Đã lầu rồi Đạo này duợc xem ở Au Châu và Pháp như là một gía trị bậc nhất của tư tuởng nhân loại. Trái lại vì trích dịch từng doạn (extraits tronqués et mal interprétés) nên rất nhiều hiểu sai chủ thuyết, « tâm đắc » và « tâm truyền » của Đạo Khổng (mà tôi tạm dịch « conscience intuitive » trong cuốn sách « les spiritualités orientales et le socialisme avec doctrine » ).

** Đạo Phật dang biến dạng thành Đạo Duy Vật, lễ nghi hình thức (le Bouddhisme matérialiste) chỉ biết cầu xin về vật chất. Vì quen học « từ chuơng » nên không mấy nguời chiụ di dến thấu triệt « le savoir à fond » mà chỉ tìm dến cái hời hợt bên ngoại và cái phép lạ, thần thoại bên trong « le faux savoir » như Ông Giovanni Papini, nhà văn hào Ý, đã viết :

La moitié des livres écrits ne sont pas édités ;
La moitié des livres édités ne sont pas vendus ;
La moitié des livres vendus ne sont pas lus ;
La moitié des livres lus ne sont pas compris ;
Et la moitié de ceux qui le sont le sont de travers.

Ngay như ở tại Pháp, nói về triết học của Phật, nhiều triết gia hoặc hiểu lầm, hoặc chủ quan, hoăc xuyên tạc :
A.- Tôi xin mạn phép Bác viết đoạn này bằng tiếng pháp. Suivant la science de la logique, F. Hegel définit très exactement l’idéalisme du Bouddhisme : « L’Etre pur (*) et le Néant sont la même chose. Le réel ne coïncide jamais avec l’Etre pur parce qu’il est toujours déterminé quantitativement et qualitativement (1). Un Etre qui serait conçu en sa pureté, ne comporterait plus aucune marque de réalité, il serait pure absence de propriété, pure négation de toute qualité (2), il serait Néant (**) ».

(*) L’Etre pur de Hegel signifie (comme dans La Vacuité de la philosophie du Bouddhisme) :
* L’Etre libre de toute Détermination (1): tous les attributs issus du monde conditionné ne sont que des valeurs relatives
* L’Etre pur est Indéfini (2): les valeurs absolues sont inaccessibles du monde conditionné.
* Dieu est l’Etre Indéterminé. Dieu est Néant.  Le Néant ou l’Indéterminité  correspond aux Valeurs Absolues = Dieu.

(**) Le Néant de  Hegel n’est pas « rien », ni « nul ». 
Peut-être à cause de l’inexistence d’équivalent en Occident entre ces deux mots (« Néant » et «Vacuité »), souvent a-t-on mal interprété la pensée de Hegel sur le Bouddhisme ?
Le Néant (de Hegel) signifie une absence totale (la Vacuité) de toutes valeurs relatives issues de l’imagination de l’homme c’est pourquoi Dieu est Néant.
 
B.- Encore une erreur d’interprétation de la pensée de Hegel  sur le Bouddhisme : « Le néant, dont le Bouddhisme fait le Principe de Tout, l’ultime but final et l’ultime fin de tout, conduit l’homme à se faire néant, cherche l’éternelle paix dans la négation de tout (1) ».

Certains philosophes ont commis cette erreur et ont confondu le terme spécifique « néantisssement » de Hegel avec le mot « anéantissement » de la langue française qui veut dire : destruction complète – extermination totale. Le Néant – La Néantisation – Le Néantissement : ces termes de Hegel sont issus de « l’indéterminité » du Réel (les valeurs absolues) à cause de la Négativié des choses (les transformations perpétuelles ou la Loi de l’Impermanence - Luật « Vô Thuờng »).

C.- Một số triết gia và trí thức Pháp dã dùng  F. Nietzsche dể chỉ trích một cách sai lầm  (xuyên tạc) về đạo Phat.
Parce qu’il est impossible à l’homme conditionné vivant dans un monde conditionné d’accéder aux valeurs absolues, voici les points communs de F. Nietzsche et du Bouddhisme :
**  Négation du monde défini par l’homme conditionné
**  Négation de la Vie  composée d’illusions du monde conditionné
** F. Nietzsche a écrit : Dieu (ainsi déterminé avec des attributs humains) est mort èToute la Doctrine du catholicisme est en fait finie et il a posé la question : pourquoi tant de souffrances et tant d’injustices dans le monde ? !!
** Comme dans le Bouddhisme l’homme peut devenir meilleur : le surhomme  de Nietzsche sera le produit de l'effort individuel de l'homme pour se surpasser, pour s'élever, ….. pour devenir meilleur par « soi-même »  pour atteindre la Connaissance (Eveil du Bouddha).

Chúng ta có thể so sánh giữa : Confucius / Nietzsche =>
Tiểu-nhân (homme de peu) / dernier homme dont l'évolution est inférieure et collective.
Quân-tử (homme de bien) / surhomme dont l'évolution est supérieure et individuelle è pour atteindre l’Eveil ou l’ homme éveillé (Bouddhisme).

D.- « Xuyên tạc » của Ernest Renan (écrivain, philologue, philosophe et historien français) et le Bouddhisme : « Cette Voie assigne, à la Vie pour but supérieur, le Néant, elle constitue une machine à faire le vide dans l’âme et représente une église du nihilisme ».

Trong thơ có doạn :
 “Bạn tôi sở dĩ có đoạn nghị luận này là vì bức thư trước của tôi, tôi có khuyên bạn tôi khá để ý coi chừng, chớ nên nhắm mắt mà nghe lời mấy ông thầy Tây hết thảy, vì thấy có nhiều ông hay nói xuyên tạc lắm trong khi nghiên cứu các vấn đề ở Đông phương về thời cổ.”

Bác dã dọc cuốn sách về Đạo Phật tôi viết chắc còn nhớ dến lời Phật dậy :
« Ne croyez pas sur la foi des traditions alors même qu’elles sont en honneur depuis de longues générations et en beaucoup d’endroits. Ne croyez pas une chose parce que beaucoup en parlent. Ne croyez pas sur la foi des sages des temps passés. Ne croyez pas ce que vous vous êtes imaginé, pensant qu’un Dieu vous l’a inspiré.Ne croyez rien sur la seule autorité de vos maîtres ou de vos prêtres. Après examen croyez ce que vous aurez expérimenté  vous-mêmes et reconnu raisonnable , ce qui est conforme à votre bien et à celui des autres. »  (Kâlâma Sutta).

Đây là lời nhăn nhủ cho các học gỉa chỉ biết học « từ chuơng » mà phải tìm cho duợc cái « nghĩa lý » sâu dậm đạt  tới « tâm dắc », « tâm truyền » của Khổng …tới giải thoát Trí Tuệ : Giác Ngộ của Phật.
Bên Việt có « Thiền », Tầu có « Chan » và Nhật có « Zen » dều có mục dích chánh là thành dạt tới chỗ « tâm dắc », « tâm truyến » (« Satori » theo Zen)…. « Giác Ngộ » như Phật. Bên ngành học vấn tại Pháp không có truyền thống này, nên họ không thể hiểu duợc. Chỉ mới vài chục năm nay có Ông thầy Nhật D. T. Suzuki và Taisen Deschimaru dem truyền qua Pháp phuơng pháp « méditation Zen » dể dạt tới  « Satori» của Zen.

Có thể vào thời dó (1931) anh sinh viên Nhật cho « tư tưởng của Âu Tây là tầm thường » vì chưa có cơ hội dể giải thích ý niệm cua mình về phuơng thức tu luyện cao siêu của Tam Đạo. Tại Pháp les moines catholiques de Cîteaux gần Dijon cũng có lối làm « méditation » nhưng không phổ biến ra ngoại nên không thể tả đuợc. Ngày nay « la neuroscience và la science cognitive » đã tiến rất nhiều nhưng không thấu triệt về cách suy luận của đầu óc do mấy nghìn năm nghiên cứu của Đạo Phật (la science de l’esprit du Bouddhisme). Nay giới khoa học Au Mỹ cũng phải công nhận sự thật này, nên họ phải mời các tu sĩ Tibet nhất là Ông Ricard Mathieu (tu sĩ) nguyên là nhà khoa học của Pháp, để học hỏi và nghiên cứu.

Hiểu duợc cách học « nghĩa lý » thật dã quá khó, thi hành cách học « tâm truyền » này càng phức tạp thêm, nói chi đến thành tựu thì dễ ai dạt duợc « Giác Ngộ ». Cũng vì vậy «vi ngôn đại nghĩa » dễ mấy ai thâu hiểu  duợc, có khác chi khi nguời nghe chưa đủ « Tuệ Giác » Phật đã trả lời : « Laissez le silence s’expliquer » và Lão Giáo thì nói : « Quand on tente de nommer l’ineffable, rien ne vaut le silence et le vide ».
Khi nói đến chữ « hiểu » tôi thấy khó quá, lại nhớ lời :
** của Phật : « Theo ta mà không chịu hiểu ta chỉ là một sỹ nhục đối với ta »
** và của Quản Di Ngô : « Sanh ra ta là cha mẹ ta, hiểu đuợc ta là Bảo Thúc Nha ».

Kết luận của bài Cụ Phan Khôi quả thực hay lại rất thực tế. Kẽ có tội to lớn với dân tộc và tiền đồ tổ quốc VN ngày nay là Đảng CSVN nhưng cũng phải kể trách nhiệm không phải nhỏ của các chánh quyền VN Cộng Hòa  Miền Nam. Cái chí huớng của Bác với tôi cũng giống như bao nguời Việt, rất mong đem chút  kiến thức dóng góp duợc gì cho dân tộc, cho dất nuớc vì chúng ta hiểu rằng :  « Còn có duờng đi tắt dể VN duổi kịp thế giới tân tiến hiện nay ».
Cũng có thể « mong muốn của Bác với tôi » chỉ giống như « le rêve du  ver de terre amoureux d’une étoile » của V. Hugo, hay chẳng qua như Trang Tử đã nghĩ : « Đêm qua ta mơ thấy mình là con bướm, hôm nay rất có thể ta chỉ là giấc mơ của bướm ».

Paris tháng 08 năm 2007
Kính thư.

Trịnh Khải.

 

* Lá thư này do GS Trịnh Khải viết gửi GS Vũ Quốc Thúc là người đã chuyển bài của tác giả Phan Khôi cho ông đọc.

Trở lại Đầu Trang