Trang Web Hướng Dương Txđ

Trở Về Trang Chính

Quốc Gia vs. Cộng Sản
Bài của Hướng Dươngtxđ

 

Một số khái niệm đang được người ta đưa ra tranh luận công khai, những khái niệm vốn dĩ có từ lâu. Riêng đối với dân Việt, chúng đã là cơ sở cho cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Miền Bắc Cộng Sản và Miền Nam Tự Do trong những năm có nội chiến. Và cho đến nay, mặc dù Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa, những khái niệm đó vẫn là căn nguyên gây ra cuộc tranh chấp giữa những người đấu tranh cho tự do dân chủ và những người CS hiện đang nắm quyền kiểm soát đất nước Việt Nam. Cuộc đấu tranh ngày nay không còn đẫm máu như xưa, không còn dùng chiến tranh như là một phương tiện để một bên hạ thủ bên kia, nhưng không phải vì thế mà bớt quan trọng và quyết liệt. Tuy nhiên, đến một khúc quanh của lịch sử, khi cuộc tranh chấp đi vào giai đọan gay gắt đòi hỏi một hình thức tranh chấp bằng vũ lực thì sự đổ máu có thể xẩy ra - giống như tại Liên Xô vào những năm tháng chế độ độc tài Cộng Sản gần xụp đổ.

Những khái niệm chúng tôi muốn nói đến  trong bài này chỉ giới hạn ở một số khái niệm sau đây: xâm lăng, chống cộng, hận thù, tự do dân chủ và phát triển kinh tế. Chúng tôi thử đứng trên hai bình diện quốc gia và cộng sản để tìm hiểu ý nghĩa của những khái niệm trên, thử dùng biện chứng pháp Mác xít và chủ nghĩa tư bàn Tây Phương để phân tích và tìm chân lý. Vì không là một học giả, chúng tôi không có tham vọng coi đây là một bài nghiên cứu thâm thúy mà chỉ là một sự đóng góp vài ý kiến thô thiển của mình và hy vọng bạn đọc sẽ chia xẻ thêm  những kiến thức và suy tư để cùng đi tới một ý thức hợp lý về những khái niện kể trên.

Xâm Lăng hay Giải Phóng?
Nói về quốc gia và cộng sản, người ta liên tưởng đến hai ý thức hệ đối nghịch đã được dùng làm chiêu bài để phân chia lãnh thổ nước ta cách đây hơn năm mươi năm. Sau ngày hiệp định Genève được bọn cường quốc thực dân ký kết với nhau, Việt Nam đã trở thành hai nước thù địch và trong suốt hai mươi năm từ 1955 cho đến 1975, miền Bắc với chế độc cộng sản đã trở thành nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong khi miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống, với chế độ quóc gia tự do trở thành nước Việt Nam Cộng Hòa. Cả hai nước đều được công pháp quốc tế công nhận như là hai quốc gia riêng biệt, có đầy đủ tư cách pháp lý, có chính quyền riêng, có quân đội riêng và độc lập về chính trị và kinh tế - tương tự như Bắc và Nam Cao Ly, Trung Hoa Lục Địa và Đài Loan, và Đông Đức và Tây Đức trước kia.

Như vậy, nếu theo quan điểm Tây Phương, mặc dù là cùng một dân tộc Việt Nam nhưng vì là hai nước tách biệt nên việc dùng danh từ “xâm lăng” để chỉ hành động của Miền Bắc đánh phá và mưu tính xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa là danh chính ngôn thuận, không có gì  là sai sót.
Những người quốc gia cho rằng hành động của Cộng Sản Bắc Việt vào mùa xuân năm 1975 đưa 5000 xe tăng và hàng trăm ngàn quân ồ ạt vào đánh chiếm miền Nam sau khi Hà Nôi đã thoả thuận ký kết hiệp định Paris và cam kết không vi phạm lãnh thổ Miền Nam là một hành động xâm chiếm bất lương phản trắc, một hành động mà thế giới phải lên án, lịch sử phải ghi lại như là một biến cố nhục nhã đối với dân tộc. Họ cũng lên án việc Hoa Kỳ do áp lực của Phe Dân Chủ Mỹ  đã hèn hạ bỏ rơi Việt Nam, tạo nên một cơ hội tốt cho Miền Bắc ngon lành nuốt đứt Miền Nam.  Đối với phe quốc gia việc Bắc Việt xâm chiếm được Miền Nam không có gì là vẻ vang, chẳng qua họ đã thành công trến chiến trường là vì những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa không còn phương tiện để chống lại quân thù, không còn vũ khí để tiếp tục chiến đấu. Lý lẽ đơn giản nhất đưa ra để chứng minh sự kiện này là đã hai mươi năm kẻ thù nỗ lực đánh chiếm Miền Nam mà không đạt được kết quả. Miền Bắc đã tổn hại về mặt quân số gấp bao nhiêu lần tổn hại của Việt Nam Cộng Hòa, hai lần tổng tấn công vào những năm 1968 và 1972 đèu đã thất bại thảm hại.

Sau năm 1973, Hoa kỳ Việt Nam hóa cuộc chiến nhưng phải cho đến mùa xuân 1975 Bắc Việt mới có cơ hội ồ ạt tấn công quân đội Miền Nam, sau khi họ biết rõ được rằng Hoa Kỳ đã nhất tâm bỏ rơi Miền Nam và phủi tay không cần giữ lời hứa là sẽ tiếp tục viện trợ vũ khí đạn dược để Miền Nam có thể tự bảo vệ lãnh thổ của mình. Trước đây những chính trị gia Mỹ vẫn phủ nhận sự thể này nhưng gần đây những nhà viết lịch sử Hoa Kỳ đã có khuynh hướng xác nhận rằng chính việc Mỹ bỗng nhiên cắt hết viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa - trong khi Liên Xô và Trung Cộng gia tăng cung cấp bom đạn và xe tăng thiết giáp tân kỳ cho Hà nội - đã tạo cơ hội cho Bắc Việt lợi dụng thời cơ nuốt lời giao ước trước đó đưa quân ồ ạt vào xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Lịch sử cuộc chiến và sự kết thúc của nó vào năm 1975 dẫn theo sự xụp đổ của Miền Nam nay được viết lại cho đúng với sự thật. Những nhà báo Mỹ mới đây đã can đảm nói lên sự phản bội của Hoa Kỳ gây ra tai họa cho ba nước Đông Dương: “ Những nhà sử học quân sự dường như đi đến việc đồng lòng chấp nhận rằng đến cuối năm 1972, quân bình lực lượng ở Việt Nam đã khả quan hơn nhiều và cơ may Nam Việt Nam có thể sống còn đã gia tăng. Việc cán cân lực lượng đã quân bình được biểu hiện bởi Hiệp Định Ba Lê ký kết vào tháng Giêng năm 1973 nhưng sau đó Quốc Hội do phe Dân Chủ kiểm soát đã quyết định phá đi sự quân bình lực lượng trong suốt 2 năm rưỡi và sau đó để cả Đông Dương phải chịu một cuộc tắm máu (Military historians seem to be converging on a consensus that by the end of 1972, the balance of forces in Vietnam had improved considerably, increasing the prospects for South Vietnam’s survival. That balance of forces was reflected in the Paris Agreement of January 1973, and the (Democratic) Congress then proceeded to pull the props out from under that balance of forces over the next 2 ½ years — abandoning all of Indochina to a bloodbath.. (Peter W. Rodman)

Ông Rudy Giuliani, người ra tranh cử ghế đại biểu cho Đảng Cộng Hòa trong cuộc bấu cử tổng thống vào năm 2008 tới đây cũng đã viết trong bài trình bầy sách lược ngoại giao và chống khủng bố của ông đăng trên tập san Foreign Affairs số tháng 8 vá tháng 9: “Hoa Kỳ cần ghi nhớ một trong những bài học từ Chiến tranh Việt Nam. Hồi đó, cũng như hiện nay, chúng ta đã áp dụng một chiến lược sai lầm trong nhiều năm trời. Thế rồi cũng như hiện giờ, chúng ta đã sửa sai và bắt đầu thấy có tiến bộ rõ ràng. Nhiều nhà sử học ngày nay tin tưởng rằng vào khoảng năm 1972, chúng ta, cùng đồng đội Nam Việt Nam, đã dẹp được cuộc nổi dậy của Việt Cộng và đã thành công đưa Nam Việt Nam đến con đưởng tự lực, Nhưng Hoa Kỳ sau đó đã ngưng ủng hộ Nam Việt Nam và tạo cơ hội cho Bắc Việt chiếm Miền Nam. (America must remember one of the lessons of the Vietnam War. Then, as now, we fought a war with the wrong strategy for several years. And then, as now, we corrected course and began to show real progress. Many historians today believe that by about 1972 we and our South Vietnamese partners had succeeded in defeating the Vietcong insurgency and in setting South Vietnam on a path to political self-sufficiency. But America then withdrew its support, allowing the communist North to conquer the South)
Và ngay cả Tổng Thống Bush, một người trước kia ít muốn nhớ đến cuộc chiến Việt Nam và đả có lần lộng ngôn tuyên bố rằng sỏ dĩ mất Miền Nam là vì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã không đủ can đảm chống lại quân xâm lăng Bắc Việt nay cũng đã chịu công nhận rằng chính vì Mỹ ngưng viện trợ súng đạn cho Việt Nam nên Việt Cộng mới xâm chiến được Miền Nam.

Ngược lại, quan điểm của phe Cộng sản là không hề có một cuộc xâm lăng hay xâm chiếm mà chỉ có một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và tay sai để giải phóng nhân dân Miền Nam khỏi ách bóc lột của tư bản đế quốc, để cứu nước, thống nhất lãnh thổ. Họ quan niệm rằng Bắc Việt và Nam Việt vẫn chỉ là một nước vì cùng một dân tộc và do đó không hề có chuyện Miền Bắc “xâm lăng” Miền Nam.


Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao Bắc Việt lại có quan điểm này? Tại sao họ nêu ra chiêu bài giải phóng khi  gây hấn với Miền Nam?  Lời giải đáp hợp lý là vì Cộng Sản Việt Nam muốn vận động nhân dân miền Bắc tham gia vào cuộc chiến, và để đi đến thành công, họ đã phải nêu ra chiêu bài chống giặc xâm lăng, chống đế quốc, giải phóng quê hương để khơi dạy lòng ái quốc của nhân dân. Họ đã từng giương ngọn cờ này trong cuộc chiến chống Pháp.

Trong kế hoạch lừa bịp người dân, nhằm khơi động trong lòng người dân Miền Bắc niềm thương sót dân Miền Nam, Cộng Sản đã đầu độc tuyên truyên rằng nhân dân Miền Nam đang quằn quoại dưới ách đô hộ của Đế Quốc Mỹ và bọn tay sai và đang sống khốn khổ trong sự nghèo đói (sau này quân lính Bắc Việt vào đến các thành phố miền Nam mới vỡ lẽ ra rằng miền “giải phóng” là một thiên đàng dưới trần thế với những thứ mà cả đời họ chưa từng thấy bao giờ). Để ngăn cản không cho người dân Miền Bắc có thể biết sự thật, Bắc Việt đã duy trì một chế độ bưng bít thông tin, bịt mắt người dân, buộc họ sống trong sự mù quáng sau một “bức màn sắt”. Sống cô lập với bên ngoài, không sao dân chúng có thể biết sự thật và trong sự u mê họ đã tin hoàn toàn vào những gì nhà nước nói. Do đó. bất cứ cái gì nhà nước và Đảng nói đều là đúng và phải tin theo. Cùng với một chính sách dùng tuyên truyền đầu độc nhồi sọ, là những phương pháp đe dọa khủng bố tinh thần. Người Cộng Sản sẵn sàng ghép cho những ai không nghe theo họ tội phản động chống lại nhà nước, rồi đưa những người này đi đầy ở những trung tâm cải tạo, hay giam trong những nhà tù khủng khiếp với những bản án hầu như là chung thân dài hàng mấy chục năm. Không những cá nhân những người có tội phải chiụ hình phạt đó mà cả những người trong gia đình và những người thân của họ cũng bị vạ lây. Ngưởi Cộng Sản có biệt tài dẫn dắt đám đông đi theo một chiều hướng thuận lợi cho họ, xúi dục người dân nguyền rủa, khinh bỉ, cô lập những ai bị coi là đồng lõa, che chở, hay giúp đỡ những kẻ phạm pháp. Chế độ Cộng sản cai trị ngưòi dân bằng sự khủng bố, sự trấn áp, và chỉ một sự nghi ngờ cũng đủ cho bộ máy nhà nước tiêu diệt con người. Việc dùng những phương tiện cay nghiệt nhất để triệt tiêu những mầm mống nổi dậy và diệt những kẻ chống đối bằng những lối trừng trị gay gắt là một định chế của chủ nghĩa Mác Xít. Nó bắt nguồn từ cái gọi là “đấu tranh giai cấp” và “chuyên chính vô sản”. Theo chủ thuyết này, phương tiện và mục tiêu đi đôi với nhau, không thể tách rời, do đó tất cả những phương thức dù dã man bất nhân đến đâu cũng có thể được đem ra dùng nhằm đạt được hai mục tiêu là diệt được hết giai cấp tiểu tư sản (bourgeois) và thiết lập chuyên chính vô sản.

2. Hận Thù? Chống hay Ủng Hộ Cộng Sản?
Cần xoá bỏ hay duy trì hận thù? Đó là câu hỏi nhiều người đặt ra và nó liên quan đến nên hay không cộng tác với chế độ Cộng Sản hiện nay. Hận thù tự nó không đặt thành vấn đề. Vấn đề là nay đến lúc nên xóa bỏ nó hay là tiếp tục nuôi dưỡng nó.

Phía Cộng Sản nói rằng đã hơn ba mươi năm trôi qua rồi, hãy quên đi dĩ vãng, hãy xóa bỏ hận thù. Họ kêu gọi những kẻ ra đi nay quay về với dân tộc và rêu rao rằng bây giờ cánh cửa đã được họ mở rộng để tiếp đón những đứa con lạc hướng trở về.  Nhưng có điều là Cộng Sản có thực tâm khi nói rằng họ đã xóa bỏ hãn thù rồi, bây giờ chỉ còn là anh em hay không? Tình thương máu mủ ai mà không chắt chiu? Ai muốn nuôi dưỡng hận thù? Người Quốc Gia không mong muốn gì hơn là một sự hàn gắn, một sự hòa giải hòa hợp dân tộc. Nhưng vì phía bên kia cứ nói một đàng làm một nẻo nên khó mà ai tin được lởi tuyên bố đó là chân thật. Đối với những người chống cộng, đó chỉ là hành động tuyên truyèn để phỉnh gạt những người nhẹ dạ. Sau khi đã bị gạt quá nhiều lần rồi - một thí dụ điển hình là vụ đi học tập cải tạo nói mươi ngày mà thành ra cả mười mấy năm - người ta không còn thể tin được ở lời nói xuông. Viết đến đây tôi nhớ đến một bài của Alphonse Daudet đọc khi còn nhỏ trong đó một cậu bé quen nói dối đến lúc nói thật người ta cũng không tin nữa - cậu bé đi rao khắp nơi rằng Đức Thánh Cha đã chết trong khi ông còn sống và đến khi căn nhà của mình cháy thật đi kêu cứu thì ai cũng có là nói chơi, không ai để ý tới.

Một vấn đề nêu ra là việc phe Cộng Sản trách phe Quốc Gia là vẫn còn hận thù trong khi họ đã thôi hận thù rồi. Rõ ràng điều này là không đúng vì ba lý do: 1. Đứng trên phương diện lý thuyết, không thể có hận thù một chiều. Bên này có hận thù bên kia thì bên kia mới hận thù bên này. Nói khác đi đó chỉ là lời ngụy biện, giả dối, nhằm mục đích tuyên truyền. Biện Chứng Pháp Mác Lê Nin – mà tôi còn nhớ lại được từ những buỗi học tập sau ngày “giải phóng” - xác định nguyên lý là phải có bên này mới có bên kia, phải có trên mới có dưới, có phải mới có trái, có mcũ mới có mới, v..v.. Như thế không thể có chuyện một bên cứ yêu, một bên cứ ghét, không thể một bên hết hận thù mà bên kia vẫn cứ dai dẳng hận thù – mặc dù quan điểm “từ bi hỷ xả” của nhà Phật dạy rằng mình cứ dung thứ mãi rồi người thù ghét mình rồi cũng phải yêu mình (giống như theo những lời răn dạy của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh). Nói khác đi, quan niệm cho rằng phe Cộng Sản nay đã sẵn sàng bỏ đi quá khứ, thôi hận thù phe quốc gia là một điều bịp bợm. 2. Khi nói chuyện với đảng viên Cộng Sản, tôi thấy họ vẫn minh định rằng họ không thể nào quên được tội ác của đế quốc Mỹ và Ngụy quân Ngụy quyền. Họ nhắc đến sự mất mát do chiến tranh gây ra mà quên rằng cuộc chiến đó do chính họ gây ra. Trong lòng họ ngọn lửa hận thù vẫn cháy rừng rực, chỉ có khác là bên ngoài miệng họ tươi cười, tay họ dang ra để bắt tay mình – một thái độ biểu tượng sự gỉa dối gian manh - như trong trường hợp những nhà làm chánh trị Mỹ và Việt Nam tươi cười bắt tay nhau và tuyên bố rằng họ hợp tác với nhau trong tình thân thiện giữa hai dân tộc. 3. Hành động cụ thể của chính quyền Việt Nam mới dây cũng chứng minh rằng phe Cộng Sản vẫn còn hận thù phe quốc gia. Ví dụ như việc áp lực với chính phủ Nam Dương để đòi phá bỏ những đài kỷ niệm thuyền nhân và mưu đồ triệt tiêu Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tại Biên Hòa, v.. v..

Nói như vậy không phải cho rằng lòng hận thù đó không bao giờ thay đổi, không bao giờ chấm dứt. Biện chứng pháp Mác Lê chẳng xác định rằng không một cái gì tồn tại mãi, cái gì trên đời cũng luôn luôn di chuyển, luôn luôn đổi thay, cái gì nay sống mai cũng sẽ phải chết là gì? Như vậy ta tự hỏi chừng nào thì hết hận thù? Câu này tùy thuộc vào những yếu tố không thể xác định trong thời điểm hiện tại. Khi nào Dân Chủ Tự Do thắng, Cộng Sản chết thì chắc chắn hận thù sẽ tự hủy diệt. Bao giờ Dân Chủ Tự Do thắng? Làm sao thắng được khi thế lực Cộng Sản đang vẫn còn mạnh như hiện nay? Lại mượn hình ảnh mà những nhà biện chứng Mác Lê đưa ra: “cây cổ thụ to lớn một ngày sẽ đổ vả những mầm mống nhỏ xíu sẽ từ từ mọc và lớn dần lên để thay thế.” “Sức mạnh ngày nay sẽ suy tàn, sức đang lên mới đàng khiếp sợ” Như vậy, mầm mống dân chủ đang tiến triển, lớn lên để trưởng thành. Tiến triển nhanh hay chậm là do những thuận lợi nhiều hay ít, cũng như mầm mọc nhanh tuỳ thuộc đất có tốt hay không. Mới đây, quan tâm của thế giới, nhất là Mỹ Châu, Úc Châu, và Cộng Đồng Âu cùng một số cơ quan bảo vệ quyền làm người quốc tế, đối với sự thể Việt Nam vi phạm nhân quyền và việc họ làm áp lực với chính quyền cộng sản Việt Nam là một thuận lợi cho việc xây dựng dân chủ tự do ở xứ mình.

Nhiều người Cộng Sản, nhất là những người ở ngoại quốc, còn cho rằng việc duy trì hận thù (tinh thần chống cộng) gây ảnh hưởng xấu đến (đầu độc) những thế hệ trẻ mai sau. Có ba điều cần nói lên ở đây để trả lời sự phê phán của họ. 1. Nếu người Cộng sản còn đầu độc giới trẻ tại quê nhà bằng những tư tưởng sai lầm như tư tưởng Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ chí Minh thì tất yếu việc duy trì tinh thần chống cộng - tức là chống học thuyết Mác Xít - là cần thiết. 2. Giới trẻ đủ thông minh sáng suốt để tự nhận định đâu là hay đâu là dở, không thể tảy não nhồi sọ họ. Tự họ, họ sẽ chọn lựa con đường tự do dân chủ hay độc tài cộng sản. Khi chống cộng, người quốc gia chỉ có thể trình bầy và biện giải quan điểm của mình, giúp giới trẻ thấy một quan điểm – không có sự cưỡng ép như dưới chế độ cộng sản. 3. Dù không phổ biến tư tường chống cộng - như ở Việt Nam bây giờ - thì con em chúng ta cũng vẫn có thể tự tìm hiểu thế nào là dân chủ tự do và chọn lập trường chống cộng sản. 4. Chẳng cần phải chống, chế độ cộng sản rồi cũng bị tiêu diệt như dã bị tiêu diệt ở cắc nước Đông Âu, chẳng lo gì chúng ta đầu độc những thế hệ trẻ tương lai. Chỉ có Cộng Sản sợ chết sớm mới lo đầu độc giới trẻ để duy trì chế độ tàn bạo của họ.

Sau nữa, còn một vấn đề là một số người sinh sống ở nước ngoài tự cho rằng mình phi chính trị, chỉ có tư tưởng dân tộc, không phân biệt Cộng sản hay Quốc gia. Không kể đến những kẻ ra đi khỏi Việt Nam từ trước ngày Cộng Sản “xâm chiếm” Miền Nam, những kẻ khác trong số này là những người được coi là chống cộng (vì không chống cộng thi sao lại bỏ đi? ) ngoại trừ những tên cộng sản trà trộn vào làn sóng người ra đi, nhưng nay vì một quyền lợi nào đó trở cờ và chuyển sang ủng hộ Cộng Sản. Thái độ này của họ nguy hiểm vả đáng để chúng ta phải quan tâm và đề phòng. Tất nhiên ở đây không nói đến giới trẻ khuynh tả (không hẳn là Cộng Sản), họ lớn lên trong thanh bình, nay muốn làm một cái gì tốt cho quê hương mặc dù trong số này, nhiều người bị ảnh hường tuyên truyền của Cộng Sản.

Cuối cùng nhiều người cho rằng ở Việt Nam ngày nay không còn Cộng Sản. Nhận xét này không đúng vì nó chỉ dựa trên bề ngoài (dân chúng làm ăn thoải mái hơn, một giai cấp giầu có mới – tư sản đỏ? – đã xuất hiện, tự do ăn chơi phè phỡn, chế độ cởi mở hơn, liên lạc với Tây Phương được thiết lập, v.. v..) Về cốt lõi, chế độ chính trị ở Việt Nam vẫn là một chế độ Cộng Sản độc tài đảng trị như trước. Chỉ có đường lối kinh tế thay đổi kéo theo một vài biến chuyển về mặt xã hội. Nếu lại dùng biện chứng pháp Mác xít thì đây cũng là một điều dễ hiểu:  nếu quan niệm rằng cái gì cũng biến chuyển theo thời gian, thì tất nhiên Cộng Sản cũng biến chuyển theo thời gian khi mà những điều kiện và hoàn cảnh thay đổi. Nhưng sự biến chuyển chưa đến giai đọan hết Cộng Sản – như người ta nói - chẳng qua nay có nhiều dấu hiệu là Cộng Sản – chứ không phải chế độ tư bản như người Mác xít rêu rao - đang ở giai đoạn giẫy chết và sớm muộn cũng sẽ chết hẳn - như ở Nga Sô và những nước Đông Âu mới đây.
Nói là vẫn còn chế độ Cộng Sản là vì những cơ cấu chính trị và quyền hành vẫn trong tay một số ít người - đảng viên Đảng Cộng Sản – và như vậy vẫn chỉ là hình thức dân chủ theo kiểu Cộng Sản – xem dưới đây - Nếu không phải chế độ Cộng Sản, không phải chế độ Tự Do Dân Chủ thì là chế độ gì? Theo thuyết Mác xít, làm gì có một chế độ trung gian? Theo Mác, chế độ Tư Bản sẽ biến chuyển rồi chết để đi đến chế độ Xã Hội Chủ Nghiã rồi tới chế độ Cộng Sản, nhưng cả hai chề độ Xã Hội Chủ Nghiã và chế độ Cộng Sản đều là chế độ Mác xít, áp đụng những chính sách chính trị giống nhau. Làm gì có chế độ nửa Cộng Sản nửa Tự Do Dân Chủ (Tư Bản). Việc chuyển sang một chế độ nửa vời (Chính trị Cộng Sản + Kinh tế Tư Bản) có thể là một dấu hiệu Cộng Sản giẫy chết? Nhưng chỉ bằng cách xòa bỏ hản chế độ Cộng sản mới có được chế độ Tự Do Dân Chủ.

4. Thế nào là Dân Chủ Tự Do?
Dân Chủ theo Cộng Sản là dân chủ vô sản – trái với dân chủ tiểu tư sản - tức là độc tài của một thiểu số nhằm tiêu diệt kẻ thù (giai cấp tư sản), giành được quyền làm chủ đất nước và quyền làm chủ những phương tiện sản xuất. Theo thuyết Mác xít, thứ dân chủ này tồn tại cho tới khi chế độ cộng sản được hoàn thành, khi mà không còn giai cấp. Nói cách khác khi đó chỉ còn một giai cấp vô sản, giai cấp tư sản đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Mọi người sẽ bình đảng hoàn toàn, xã hội sẽ đồng nhất, không có người giàu kẻ nghèo, người khôn kẻ ngu, không còn tranh chấp giữa con người - vì chẳng còn gì để mà phải tranh chấp, ai cũng muốn gì được nấy. Nếu hiểu như vậy thì thứ dân chủ hiện nay vẫn là loại dân chủ vô sản căn cứ trên sự độc tài của giai cấp cầm quyền (Đảng Cộng Sản), đó là một thứ dân chủ dành riêng cho một giai cấp, còn với tất cả những ai ngoài giai cấp này, dân chù đồng nghiã với chuyên chính. Sự áp đặt ý muốn của một thiểu số trên đa số là cốt lõi cùa nền dân chủ vô sàn (proletarian democracy)
Người Cộng Sản coi thứ dân chù của Tây Phương là thứ dân chủ tiểu tư sản (bourgeois democracy), thứ dân chủ của giai cấp tư sản, là giai cấp lợi dụng sức lao động của giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) để tích lũy tư bản, ngày càng trở thành giàu hơn, ngày càng bóc lột lao động của giới vô sản nhiều hơn. Như thế cũng chì có dân chủ cho giai cấp tư sản mà thôi, giai cấp vô sản thì phải chịu cái ách của bọn tư sản. phải bán sức lao động của mình mà sống, phải làm nô lệ cho giai cấp tư sản. Trong nền dân chủ tư sản này, tư do báo chí chẳng hạn chỉ là tự do của bọn tư sản vì chúng nắm những phương tiện ấn loát phát hành sách báo, do đó chúng muốn nói gì thì nói. Còn giới vô sản thấp cổ bé miệng đâu có phương tiện truyền thông để mà nói đế xử dụng tự do ngôn luận? Theo đúng lý luận này, chúng ta phải chờ khi xã hội lên tới giai đoạn Cộng Sản – cũng là giai đoạn cùng tận của phát triển xã hội – thì mới có dân chủ tự do cho toàn thể mọi người.
Như vậy theo thuyết Mác Xít, trong giai đoạn hiện nay của nước ta, chưa thể có thứ dân chủ tự do cho tất cả mọi ngưới đó mà chỉ có thể có thứ dân chủ vô sản mà thôi. Chính vì vậy mà đòi hỏi dân chủ tự do vào lúc này là không phải lúc, là điều không chấp nhận được, những ai tranh đấu cho dân chủ tư do hiện nay bị coi là những kẻ phản động, những tay sai của đế quốc, những kẻ đang manh tâm lật đổ chính quyền vô sản, những tội phạm theo luật lệ vô sản.

Theo lối suy nghĩ của người cộng sản, không có cái thứ dân chủ tự do Tây Phương như những người quốc gia quan niệm. Cái thứ dân chủ tự do chung chung đó chỉ là một thứ vô nghĩa, không chấp nhận được vì nó không thuộc một trong hai loại dân chủ tiểu tư sản và dân chủ vô sản của thuyết Mác Xít Lê Nin Nít. Đối với người cộng sản dân chủ Tây Phương chỉ gây rối loạn xã hội, gây khó khăn cho việc điều hành guống máy nhà nước, ngăn chặn sữ phát triển và xa đoạ hóa xã hội. Như thế người dân ở Việt Nam được dạy rằng chỉ có chế độ hiện nay, một chế độ độc tài nhất đảng mới có thể bảo đảm mang đến phát triển đất nước, no ấm hạnh phúc cho nhân dân - một điều mà quá khứ rõ ràng đã phù nhận vì suốt hơn ba mươi năm (1955-1986) chế độ cộng sản đã bất lực, không làm được gì cho nước cho dân cho đến khi phải nhờ vào sự trợ giúp của Tây Phương mới bắt đầu chậm chạp phát triển (1986-1995)
Để hiểu được thế nào là dân chủ tự do, những nhà tranh đấu trong nước đã phải tìm mọi cách phổ biến tư tưởng này mặc dù họ bị bắt bớ bỏ tù. Đấy là một hình thức giáo dục tư tưởng quốc gia, mở mắt cho những kẻ mù quáng chỉ biết có nghe theo Đảng và Nhà Nước, tin theo những lời tuyên truyền có tính chất đầu độc và bưng bít sự thật. Chỉ có những người sống trong xã hội dân chủ tự do Tây Phương dưới chế độ quốc gia mới tự nhiên thấu hiểu được những giá trị của một nền dân chủ tự do đích thực. Tất nhiên những tay sai cộng sản sống dưới chế độ dân chủ tự do ở những nước Tây Phương không bao giờ dám nhìn nhận - mặc dù họ thấy rõ - những giá trị đó.

5. Phát Triển Dân Chủ Trước hay Xây Dựng Kinh Tế trước?
Không thể phủ nhận rằng tại Việt Nam ngày nay có sự phát triển về mặt kinh tế nhưng đó chỉ là chuyện bình thường, không có gì đáng tự hào. Không có phát triển kinh tế thì mới là một chuyện lạ. Bởi vì ba mươi năm đã trôi qua, không lẽ Việt Nam vẫn như xưa. Nhưng có chuyện lạ là Bắc Việt trong suốt 20 năm từ 1955 cho đến 1975 không có một sự phát triển nào và Cộng sản ngụy biện là tại chiến tranh. Trong khi đó Miền Nam, cũng có chiến tranh, vẫn phát triển tuy không ở một mức độ phát triển nếu có thanh bình . Cũng cùng một chuyện lạ là từ 1975 cho đến 1986 Việt Nam cũng không phát triển – nêú không nói là chỉ thụt lùi. Nếu nói là tại vì những khó khăn sau thời chiến (nước ta còn nghèo???) thì tại sao sau khi có chính sách đổi mới tình hình thay đổi và đến những năm 1990 thì kinh tế bắt đầu phát triển? Trả lời: nhờ viện trợ từ phương Tây, và tiền đầu tư do ngoại quốc bắt đầu đổ vào. Thế tại sao không áp dụng chính sách đổi mới ngay từ ngày “Giải Phóng” hay tệ lắm thì cũng vào những năm sau đó? Nêú có như thế thì ngày nay Việt Nam đã phát triển hơn và đã có thể trở thành một nước “tiên tiến” hơn, ít lệ thuộc vào tư bản nước ngoài hơn.

Có một số điều liên quan đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam mà ta cần xem xét. Thứ nhất là mức độ phát triển cao (7%-8%) hiện nay có phải là dấu hiệu cho thấy rằng chế độ công sản là siêu việt, chỉ có ở một nước Việt Nam Cộng Sản mới có một mức độ phát triển như vậy hay không? Nhiều yếu tố giúp soi sáng vấn đề này. 1. Trong giai đoạn mới phát triển - từ một nước chậm tiến - thì quốc gia nào cũng có mức độ phát triển cao từ 6% đến 8 % như thế. Thí dụ như Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore hơn ba mươi năm trước đây hay Malaysia sau đó 10 năm; chỉ trừ Indonesia, Thái Lan, và Phi Luật Tân là có mức phát triển chậm hơn. Như vậy 20-30 năm sau những quốc gia ở Nam Á thoát ra khỏi sự chậm tiến thì sự thể Việt Nam, một nước có lao động từ xưa vẫn được coi là thông minh và có nhiều óc sáng tạo, phát triển với mức tăng triển 8% không phải là một kỳ công để  Đảng Cộng Sản tự kiêu. 2. Thế tại sao những quốc gia đã phát triển lại chỉ có mức tăng triển không bằng phân nửa Việt Nam? Điều nay cũng dễ hiểu. Khi mà tổng sản lượng quốc gia đã lên cao tột cùng rồi thì làm sao mà còn gia tăng nhiều được? Do vậy chỉ có thể xem một nước có khà năng phát triển cao khi nhìn vào sản lượng đầu người (năm 2005 đứng hàng thứ 145 trên thế giới) . Trong một quốc gia với một số dân lớn như Việt Nam mà có tổng sản lương như hiện nay thì chẳng có gì là ghê gớm cả. Chẳng phải là những nhà kinh tế Việt Nam siêu việt mà mức độ tăng triển là 8%. Chẳng qua là vì tổng sản lượng quốc gia của nước ta vẫn còn thấp. “phải 20 năm nữa mới bằng Malaysia ngày nay” như lời tuyên bố mới đây của cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.

Đảng Cộng Sản cũng khoe khoang là mỗi năm có cả hai ba chục tỷ đô la của ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam. Tất nhiên nhiều đầu tư của ngoại quốc có lợi cho xứ mình nhưng đồng thời nó cũng có hại. Tài nguyên nước ta (đất đai, nhân công, xuất nhập cảng, nguyên nhiên liệu) bị ngoại quốc lợi dụng. Dân Việt Nam được lợi một phần thì bọn đầu nậu quốc tế (nhất là Đại Hàn, Đải Loan, Singapore, Hong Kong. Malaysia, thậm chí cả Thái Lan và Ấn Độ) phải được lợi bội phần. Chúng không điên dại gì mà ùn ùn kéo vào Việt Nam để giúp nước ta phát triển. Thế tại sao các báo chí, tổ chức (ngân hàng, liên Hiệp Quốc), công ty quốc tế và các chính phủ cứ lên tiếng ca tụng nước ta? Điều này cũng khó giải thích hợp lý. Tuy nhiên, những lý do có thể đưa ra là 1. “lời nói không mất tiền mua” cứ khôn khéo ngoại giao  2. đổ tiền vào làm ăn kiếm thị trường lợi dụng tình thế để bóc lột thì phải khen, chê thì nhào vào làm gì  3. muốn có hợp tác chính trị quân sự thì phải ca tụng (truờng hợp Hoa Kỳ) vân… vân…

Bây giờ bàn đến vấn đề quan trọng là đã đúng lúc để đòi hỏi dân chủ tự do (Tây Phương) hay chưa? Lý luận rằng cần phát triển kinh tế trước sau đó mới xây dựng tự do dân chủ đúng hay sai? Đứng trên phương diện lý thuyết Mác Xít thì tự nó câu hỏi này vô nghĩa. Theo người Mác Xít, 1. không có cái thứ dân chủ chung chung nhu dân chủ Tây Phương (xem ở trên); 2. phát triển kinh tế và tiến trình dân chủ xẩy ra đồng thời và một cách tư nhiên. Dân chủ tự do đương nhiên đến với toàn thể mọi người một khi xã hội đã tiến tới giai đọan Cộng Sản Chủ Nghĩa (xem đoạn trên). Trong giai đọan Cộng Sản Chủ Nghĩa này phát triển kinh tế đã lên tới mức tột đỉnh, sản xuất đã dư thừa, phẩm chất sản phẩm đã tuyệt hảo, phân phối đã hữu hiệu tối đa, người dân muốn gì được nấy, không còn ao ước một điều gì hơn. Quả nhiên, khi sự thể mơ tưởng này xẩy ra thì chả còn vấn đề dân chủ tự do vì  trong một xã hội thần tiên như vậy làm gì còn bất công, làm gì còn áp bức? như thế thì vấn đề dân chủ tự do đâu còn đặt ra nữa?

Nhưng nếu cùng đồng ý xét từ “dân chủ” với  ý nghĩa “dân chủ Tây Phương”, thì vấn đề phát triển kinh tế trước hay xây dựng kinh tế trước có thể đem ra tranh cãi (Nói cho đúng ra thì không có quan niệm xây dựng dân chủ trước xong mới phát triển kinh tế mà chỉ có quan niệm xây dựng dân chủ đồng thời với phát triển kinh tế. Không ai ngu xuẩn đến độ quan niệm ngưng phát triển kinh tế để xây dựng dân chủ.)

Nếu lý luận theo Triết Lý Mác Lê-Nin, một triết lý duy vật cho rằng tất cả những yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa giáo dục đều do kinh tế chi phối, thì quả nhiên kinh tế cần phải phát triển trước rồi mới có dân chủ. Như vậy ai cũng có thể hiểu được tại sao những người khuynh tả ở hải ngoại ủng hộ chế độ Hà Nội đều bênh vực cho quan điểm này (nói cho đúng ra họ chỉ là phát ngôn viên của Hà Nội, nói lên quan điểm của Hà Nội để tuyên truyền cho Hà Nội). Việc đưa ra tên tuổi của một số nhà kinh tế Tây Phương để biện hộ cho chủ trương này cũng chẳng có một giá trị nào cả vì những nhà kinh tế này có lập trường khuynh tả, họ cũng ủng hộ quan điểm Mác xít - nhiều nhà trí thức có lý tưởng trên thế giới đã mù quáng đi theo Mác để rồi sau này, sau khi va chạm với thực tế, mới sáng mắt ra.

Ngược lại, đa số những nhà kinh tế chính trị ngày nay trên thế giới cũng như những cuộc nghiên cứu và báo cáo về phát triển từng nước do các tổ chức quốc tế thực hiện đều cho rằng kinh tế phát triển nhanh chóng, hợp lý và nhuần nhiễn hơn dưới một chế độ dân chủ tự do trong đó con người được tự do ganh đua, tự do áp dụng những ý kiến của mình và việc sinh đẻ ra những sáng kiến được thúc đẩy cho tới mức tối đa. Khi con người hoàn toàn được tự do suy nghĩ, tự do phát biểu tư tưởng, tự do làm theo những gì mình thấy hay thấy phải mà không bị ngăn chặn bởi một tà lực nào thì phát triển tiến vượt bực. Bằng chứng là những nước đã phát triển ở phương Tây xưa kia đã thành công trong việc nhanh chóng tìến lên một xã hội tân tiến, kỹ nghệ hóa.

Những người bênh vực quan điểm của Cộng Sản lại nói rằng các nước Nam Á như Đại Hàn, Singapore,  Đài Loan trong giai đoạn phát triển cũng đã chấp nhận độc tài và  nhờ  vậy mà  phát triển được nhanh chóng. Lời nói trên quả đúng nhưng đừng quên rằng những chế độ độc tài đó không phải là chế độ cộng sản độc đảng áp dụng những chính sách khủng bố, tuyên truyền nhồi sọ, áp bức người dân. Những chế độ đó, mặc dù có một  chính sách đàn áp chính tri, kiểm soát báo chí và kinh tế, vẫn tôn trọng những căn bản tự do dân chủ: vẫn có đảng đối lập, vẫn có báo chí của tư nhân, tự do giáo dục, v…v.. Vả lại chính vì ông Park Chung Hy độc tài đến độ sẳn sàng giết hàng chục ngàn người dân trong cuộc đàn áp phe chống đối mà ống bị ám sát. Thử hỏi ở Việt Nam một vụ ám sát nhà lãnh đạo như vậy có thể nào xẩy ra được hay không? Bản chất ông Lý Quang Diệu cũng là một nhà lãnh đạo độc tải khuynh tà nhưng có thể coi chế độ chính trị của Singapore vào thời đó như một chế độ Cộng sản hay không?

Kết luận:
Dù sao đi chăng nữa Việt Nam không cẩn có một chế độ Cộng Sản hay bất cứ chế độ độc tải nào khác để phát triển, mà chỉ cần một chế độ dân chủ tự tự do với một chính sách kinh tế chỉ huy như tại các nước như Malaysia hay Hong Kong xưa kia hay những nước mới được giải phóng khỏi chế độ Cộng Sản tại Đông Âu mới đây. Sau hơn 50 năm đã phải chiụ một chế độ độc tài đảng trị, nay đã là lúc người dân Việt được giải phóng  và một nên dân chủ tự do thực sự được thiết lập trên quê hương ta.

Hướng Dương txd
9-7-07


Trở lại Đầu Trang