![]() |
Trang Web Hướng Dương Txđ |
![]() |
Nuối Tiếc |
Canada, ngày 10 tháng 5, năm 2009 Anh thân kính, Tôi buồn lắm khi đọc thư anh. Thật không biết phải làm gì hơn, ngoài gửi đến anh những dòng chữ thân tình và thắc mắc của tôi - Tại sao cả đời anh lại chỉ toàn là nuối tiếc? Anh có thể nói rõ hơn không? Tôi nghĩ, nếu nói ra được, anh sẽ cảm thấy dễ chịu, nhẹ nhõm, và thoải mái hơn. Còn nếu ngại, thì thôi, tôi không dám ép đâu.
trong đời; hiển hiện, vùng đất mới này đã đưa đến cho tôi nhiều dịp tốt lành khác. Với tôi, tất cả những mất mát đó, nếu thực tâm, vẫn có thể kiếm lại hay thay thế được. Riêng một thứ, tôi sẽ không bao giờ tìm lại hay mua được bằng tiền, sẽ tiếp tục nuối tiếc cho đến cuối đời: đó là trí nhớ của mẹ tôi và những gì tôi không làm được cho bà!
- Thôi mình đi về nhà ăn cơm đi. Mẹ nghĩ con đói lắm rồi đó? Người gầy như con tép mà cứ phải vất vả với mẹ mãi. Chắc không có gì quan trọng phải không con? Trưa hôm đó, ngồi ăn cơm, tôi đã tránh không nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi buồn lắm. Tim tôi đau nhói như có người cầm dao nhọn xoáy vào. Người đàn bà ít học nhưng rất thông minh, đảm đang, tháo vát, phúc hậu, khó tính, và khá khe khắt với các con, ngồi trước mặt tôi, đang mất dần trí nhớ của mình mà không hề hay biết! Bữa ăn trưa hôm đó, mẹ tôi gắp khá nhiều thịt vào bát của tôi. Hình như bà hoàn toàn không để ý đến những giọt nước mắt đau khổ đang rỏ xuống bát cơm. Tôi lùa nhanh cơm nóng vào miệng và để yên cho mẹ hớn hở gắp thêm thức ăn. Tôi cố gắng thu lại hình ảnh trìu mến ấy vào đầu. Có lẽ, đây là một trong vài ba lần cuối cùng mẹ tôi còn đủ trí nhớ để tiếp thức ăn cho đứa con gái của bà! Ăn cơm xong, tôi nhắc mẹ đi tụng kinh với dì, người bạn già của mẹ, do tôi mời đến để cùng ngồi xem phim với mẹ cho vui. Mẹ tôi làm theo như một đứa trẻ con. Dì thấy mắt tôi đỏ thì ghé vào tai hỏi nhỏ:
Tôi tháo tất cả nút vặn của bếp lò, dấu vào một chỗ, vì sợ mẹ tôi loay hoay vặn lên rồi sờ tay vào xem lò đã nóng chưa. Quan trọng hơn, tôi gỡ hết các núm cửa ra vào, thay bằng ổ khoá; như vậy mẹ tôi sẽ không thể mở cửa để đi ra ngoài một mình. Tôi nhớ lời bác sĩ khuyên là người trong nhà phải rất kiên nhẫn và thông cảm cho mẹ. Với chứng Alzheimer, bà sẽ hay lẫn lộn về con số, hay than phiền vì mất đồ đạc cá nhân. Bà có thể đổ tội cho người trong gia đình ăn cắp tiền bạc, nữ trang, hay quần áo của bà. Bác sĩ cũng nhắc nhở, người bị lẫn sẽ không có ý thức rõ rệt về hành động của họ làm. Nói tóm lại, thân nhân của người bịnh phải để ý mọi việc trong nhà để tránh đến mức tối đa những tai nạn đáng tiếc, có thể xảy ra, vì sự nhầm lẫn, lúc nhớ, lúc quên của người bị bệnh Alzheimer này. Anh ạ, hai năm đầu qua đi thật khó khăn. Tôi và đứa em gái cùng người giúp việc phải chia nhau chạy theo những trò chơi thật mới lạ của mẹ tôi. Có lần bà đem đổ cả đĩa nho vào cầu tiêu, giựt nước, rồi cứ đứng nhìn chăm chú vào những quả nho đang cuốn từ từ và mất hút vào dòng nước xoáy mạnh. Có đôi lần, mẹ tôi mở vòi nước nóng cho chảy thật mạnh, túm lấy một nắm khăn giấy, nút chặt lỗ thoát nước lại. Xong xuôi, bà đứng im nhìn, mặc cho nước nóng tràn ra sàn nhà lênh láng. Có lúc mẹ tôi đem cả đống hộp nhựa đựng thức ăn ra bàn, cắt hết mấy cái núm để cầm mở hộp. Tôi nhìn thấy và hỏi: “Tại sao mẹ làm như vậy?” thì bà quắc mắt, giận dữ chối phăng và quát thật to: “Không phải là mẹ làm.” Có nhiều đêm mẹ tôi giấu dao kéo, muỗng nĩa dưới gối của bà, bảo là để phòng thân nếu có trộm cướp vào nhà. Tệ hại hơn tất cả là mẹ tôi lén nhổ nước súc miệng vào mấy cây quỳnh trong phòng khách, nhưng lại khăng khăng đòi để mẹ tưới cho quỳnh mau ra hoa. Buồn hơn cả, những cây quất và lá măng thật đẹp mà mẹ đã chăm sóc tỉ mỉ từ hơn mười năm qua, lần lượt chết hết, vì bà cứ len lén lấy xà bông rửa chén cho vào gốc cây, nhưng lại cãi là thuốc bổ dùng bón cây. Có một lần, tôi đau lòng lắm khi thấy mẹ lấy đôi găng tay cao su dùng để rửa bát cho vào tủ đá nhưng lại hớn hở khoe là mẹ đã giúp tôi bỏ cá vào tủ đá rồi. Chưa hết những trò chơi khác thường của mẹ tôi chế ra đâu. Hôm xưa, một chiều đi làm về, trước khi vào nhà, tôi để ý thấy một hàng dài màu trắng bay lấp lửng bên trong cửa sổ. Vào trong nhà, tôi buồn cười quá vì đó là năm sáu cái quần lót, mẹ tôi máng lên phơi dọc theo đà ngang treo màn ren ở cửa sổ nhà bếp. Tôi cố nín cười, không dám nói mà cũng chẳng dám động đậy, vì sợ mẹ tôi lấy cớ để nổi giận. Trong bữa ăn, mẹ tôi thường vừa ăn vừa nghịch. Nếu không để ý, mẹ sẽ hí hửng bỏ vài tờ khăn giấy, hay con cá, hay đổ cả đĩa rau xào vào bát canh, rồi lấy thìa quậy cho bắn tung toé ra bàn. Hình như mẹ tôi không thể để tay chân yên một lúc nào cả. Nếu sơ hở, không bám sát để đánh lạc hướng bằng cách dụ mẹ ra ngồi tụng kinh, thì bà phải tìm một cái gì đó để táy máy, nghịch ngợm với hai bàn tay.
đúng cả. Thế là mẹ tôi hí hửng vì tưởng là mình đúng, vui vẻ, và ngoan ngoãn ngồi tụng kinh với dì. Thời gian này, mẹ tôi thích ngủ lắm. Cứ thấy mặt tôi, dù là 6 giờ sáng hay 5 giờ chiều, mẹ cũng cứ lèo nhèo xin xỏ: “Con cho mẹ đi ngủ nhe. Mẹ buồn ngủ lắm.” Nhưng tôi chỉ lắc đầu, lặp đi lặp lại như ra lệnh hàng chục lần: “Không được, mẹ ra ngồi tụng kinh đi.” Đôi lúc tôi cũng thấy tội nghiệp mẹ vì thấy đôi mắt lờ đờ của mẹ, nên chiều theo lời xin, thì đêm đó, bà không nằm ngủ yên mà cứ đi vòng vòng trong phòng khách hàng giờ đồng hồ như người tập thể thao. Bước sang năm thứ ba, bệnh của mẹ tôi nặng hơn một chút. Ban đêm mẹ hay soi đèn pin đi khắp nhà như tìm kiếm vật gì. Có khi mẹ tôi lục thức ăn trong tủ lạnh rồi ngồi bệt xuống sàn bếp ăn nhồm nhoàm như người bị bỏ đói lâu năm. Nhiều đêm mẹ tôi lục lạo tìm được hộp bánh, ăn được vài cái rồi vứt tung tóe ra bàn hay ra sàn nhà. Dạo đó, tối nào tôi cũng bị mẹ bấu vào cánh tay để mách là: “Con đi làm, ở nhà dì bắt nạt, mắng mẹ đó.” Tôi giải thích: “Không phải dì mắng mẹ đâu, dì chỉ nói to sợ mẹ không nghe rõ.” Thế thì mẹ tôi giận và không ăn cơm nữa.
Nhưng may quá, vừa lúc ấy, tôi nhìn thấy bóng dáng của dì và mẹ từ xa. Dì bảo tìm thấy mẹ tôi đang lững thững đi chân không vào một con ngõ nhỏ gần bên đường cái sau nhà. Tôi không còn chọn lựa nào khác hơn. Ngày hôm sau, tôi đưa mẹ đì bác sĩ, báo cáo tình trạng bất ổn xảy ra, xin toa mua thêm thuốc an thần cho mẹ. Tôi sống trong hồi hộp và chạy theo với bệnh của mẹ từng ngày. Nhiều đêm mẹ tôi tóc dài rũ rượi đứng ở đầu giường, khều tôi dậy. Đã nhiều lần, hồn vía tôi bay lên mây khi vừa mở mắt ra, thấy mẹ giống hệt con ma tóc dài trong phim bộ. Hình ảnh ấy, tuy làm tôi sợ lắm trong đêm tối, nhưng tôi lại thấy thương mẹ nhiều hơn. Tôi nhớ nhất là lần, vừa mở mắt, tưởng là ma, tôi đã hét to, nhưng mẹ lại thì thào nói vào tai tôi như sợ có người nghe được: “Con ạ, mẹ đói quá, con có cái gì cho mẹ ăn không?” Nước mắt tôi ứa ra. Từ đó, đêm nào tôi cũng để một hộp bánh nhỏ và tách nước trà có nắp đậy giữa bàn. Tôi dặn mẹ, ban đêm, nếu mẹ đói thì tự lấy bánh ăn. Đồng thời để mẹ tôi bớt sợ giữa đêm khuya, cầm đèn pin đi tìm con, tôi ôm chăn gối ra ngủ ngoài ghế xô pha (sofa) và để đèn trong phòng khách. Từ đó, ban đêm, mẹ tôi yên tâm. Nhưng thỉnh thoảng, bà cũng rọi đèn pin vào mặt xem có phải đúng là tôi không, rồi ngồi dưới thảm, nhìn tôi ngủ. Mỗi khi tỉnh giấc, thấy mẹ ngồi như vậy, tôi lại dẫn bà vào phòng. Có nhiều hôm làm việc mệt quá, tôi ngủ say, đến sáng dậy thì ngửi thấy mùi nồng nặc trong phòng khách. Tôi bật đèn đi tìm nơi phát ra cái mùi khó chịu ấy thì thấy ngay một bãi to trên tấm thảm nhỏ mẹ tôi thường dùng để quì lạy Phật hay tổ tiên. Thì ra đêm qua tôi ngủ say quá, đã không dậy nổi để chỉ cho mẹ nhà vệ sinh ở đâu. May mắn, mẹ tôi còn chút minh mẫn sót lại, nên bà đành phải đi cầu trên tấm thảm nhỏ này. Nhiều lần xảy ra như vậy, góc nhà nào cũng có dấu tích lầm lẫn ấy. Tôi rất khổ tâm, đôi khi bực mình, tôi không biết phải nói gì ngoài lau rửa, thay quần áo cho mẹ, dọn sạch sẽ nhà cửa trước khi đi làm. Tôi không có con nhỏ, nhưng thực sự đã sống như một người có con mọn trong nhà. Nếu buổi tối, tôi đi chợ hay đi đâu về muộn, không vào phòng thăm hỏi mẹ, thì cứ tin chắc là đêm đó mẹ tôi mất ngủ.
Khi thấy tôi vừa nói, vừa khóc trong tức tưởi, hình như mẹ tôi tỉnh táo hẳn ra. Mẹ nhìn tôi với ánh mắt trìu mến, pha lẫn xót xa. Bà lấy đôi tay không còn khả năng sử dụng nhuần nhuyễn như xưa, vuốt nhẹ lên mái tóc ướt đẫm mồ hôi của tôi. Rồi từ từ, mẹ đưa những ngón tay run rẩy, gạt những giọt nước mắt đang lăn dài trên má đứa con gái của bà. Ngày xưa mẹ tôi hay nói đùa là kiếp trước tôi nợ mẹ và em nên kiếp này tôi khổ nhất nhà. Khi nhìn thấy mẹ tôi nước mắt đoanh tròng, tôi như bừng tỉnh. Tôi hối hận và lấy lại bình tĩnh ngay tức khắc. Tôi nắm chặt hai cánh tay của mẹ, đỡ bà đứng lên, nói thật to để át đi tiếng nức nở, nghẹn ngào của mình: Mẹ tôi ngoan ngoãn vâng lời. Bà thẫn thờ cầm quyển kinh để chỉ lặp đi lặp lại đúng sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” trong khi đôi mắt lạc thần nhìn vào khoảng không trước mặt. Mỗi khi nhìn thấy cảnh tượng này, tôi không sao cầm được nước mắt. Từ ngày mẹ tôi bị lẫn, căn nhà này thật buồn tẻ. Thỉnh thoảng, khách đến thăm thường hỏi; “Tại sao không đưa mẹ vào viện dưỡng lão” thì đêm đó, mẹ tôi không ngủ, cầm đèn pin, ngơ ngác đi vòng quanh nhà bếp nhiều lần. Có lẽ mẹ tôi vẫn còn hiểu câu hỏi của khách, nên không dám đi ngủ. Có lẽ, mẹ sợ khi trời hừng sáng, tôi sẽ đem bà gửi vào nhà dưỡng lão. Tôi không hiểu tại sao ba chữ ‘viện dưỡng lão’ lại có tác động sâu và mạnh đến như vậy trong bộ óc của mẹ tôi. Sang đến năm thứ tư, một biến cố nữa đã âm thầm xảy ra cho mẹ. Sáng hôm đó, mẹ tôi thức giấc như thường lệ. Tôi ngồi xem tin tức, nhìn mẹ ăn sáng, uống thuốc, viết tên, ký tên vào sổ. Đây là bằng chứng để mẹ tôi không thể đòi dì cho bà uống thuốc nữa. Mẹ tôi làm theo đúng như lời yêu cầu thường lệ. Nhưng có điểm đặc biệt là sáng hôm ấy, mẹ tôi không hỏi liên tục như mọi ngày: “Hôm nay con có phải đi làm không?” Mẹ có vẻ trầm lặng hơn, dù tôi đã cố gắng gạn hỏi lung tung để buộc bà phải trả lời. Mẹ tôi tỏ ra có nhiều khó khăn khi nói chuyện. Mẹ lắp bắp mãi mới nói được một câu ngắn. Tôi có đưa mẹ đi bác sĩ, nhưng cũng không giúp được gì nhiều. Mẹ tôi đã bị một tai biến mạch máu não, ảnh hưởng đến sự phát âm. Tôi buồn lắm, nhưng không biết phải làm gì hơn. Cuối cùng tôi an ủi mẹ giống như các cụ ngày xưa thường nhắc đến hai chữ ‘khẩu nghiệp’. Đại khái là nói ít thì sau này tránh được tội do cái miệng gây ra; còn nói nhiều thì chỉ buộc thêm tội vạ vào thân mà thôi. Cũng trong khoảng thời gian này, tôi bắt đầu để ý đến tác dụng của loại thuốc dùng làm trì trệ bệnh lẫn của mẹ. Hình như thuốc không có hiệu nghiệm gì cả, mà ngược lại, làm cho người bệnh bần thần, bối rối thêm. Các sinh hoạt rất bình thường của mẹ tôi gần như biến mất từ từ. Cả ngày mẹ tôi lững thững ra vào các phòng trong nhà một cách buồn bã, đờ đẫn như người mất hồn. Cái rủi của tôi là quên không điện thoại cho bác sĩ xin toa mua thuốc cho mẹ, đúng vào lúc ông đi xa. Hiệu thuốc tây đã rất tử tế cho tôi vay trước 10 ngày thuốc rồi đợi bác sĩ về ký toa mua thêm. Loại thuốc mới nhất dùng cho bệnh Alzheimer này rất đắt tiền. Sau 10 ngày, tiệm thuốc không thể cho tôi mượn thêm nữa. Lúc đó, đúng vào dịp lễ lớn cuối năm, tất cả sinh hoạt bình thường gần như bị gián đoạn. Tôi cũng liều vì biết thuốc đó, chẳng qua cũng chỉ là thuốc an thần mà thôi. Trong những ngày mẹ tôi không có thuốc để uống, được nghỉ lễ ở nhà, tôi gần gũi với mẹ nhiều hơn. Sáng hôm đó, sau khi cho mẹ tôi làm vệ sinh xong, bà tự động cầm lược chải đầu. Tôi rất ngạc nhiên vì đã không thấy hành động này từ hơn hai năn nay. Tôi thử đưa lọ kem bôi mặt cho bà rồi bảo nhỏ: “Mẹ bôi kem đi.” Mẹ tôi làm theo, rồi nhìn tôi mỉm cười sung sướng. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi mừng lắm, vì đó là dấu hiệu mẹ tôi vẫn còn ý thức được thói quen xưa kia của bà.
Mẹ tôi sống thật bình an, vui vẻ được gần một năm. Cho đến một buổi sáng đẹp trời khác, bà thức dậy và cứ đập liên tục vào cánh tay tôi. Tôi hỏi xem mẹ muốn nói gì thì chỉ thấy đôi môi hồng của bà mấp máy mà tiếng nói thì không thoát ra được. Tôi yêu cầu mẹ nói to hơn nhưng vô ích. Bà cứ nắm tay tôi, lay thật mạnh rồi chỉ vào đôi môi của bà. Mẹ nhìn tôi, nước mắt đoanh tròng, ngẩn ngơ, trông thật là tội nghiệp. Tim tôi thắt lại. Mẹ tôi đã mất khả năng phát âm rồi! Tôi lại khóc như chưa từng được khóc. Tôi lại vội vàng đưa mẹ đi bác sĩ. Thêm một lần nữa, y học lại bó tay, vì mẹ tôi đã quá lớn tuổi rồi. Từ đó, tôi không còn được nghe tiếng mẹ xin xỏ hay năn nỉ “Cho mẹ đi ngủ” nữa. Và từ đó, mẹ tôi hoàn toàn mất hẳn tiếng nói trong cuộc đời này. Đây là một mất mát quá to lớn cho mẹ tôi, cho tôi, và đại gia đình!
của mẹ tôi, dù chứng bệnh tàn nhẫn, Alzheimer, đang âm thầm hủy diệt những tế bào thần kinh và cướp dần đi trí nhớ của bà, thật vẫn còn sót lại một góc thật nhỏ để dành cho mẹ nhớ đến đứa em khờ khạo của tôi. Anh ạ, kể từ ngày mẹ tôi không còn phát âm được nữa thì cũng là lúc tôi bắt đầu sống trong nuối tiếc! Tôi đau khổ âm thầm. Tôi bị lương tâm đay nghiến nhưng không thể nói được với ai. Ngay cả với anh chị em trong nhà, tôi cũng không muốn nói gì nhiều. Bề ngoài, tôi luôn tỏ ra là một phụ nữ can đảm, thừa nghị lực để có thể vượt qua tất cả khó khăn trên đường đời. Nhưng bên trong, nội tâm xâu xé, dằn vặt, và không ai biết được tôi đang sống trong đau khổ. Kể từ khi mẹ tôi mất đi khả năng diễn đạt tư tưởng hay ước muốn của bà bằng lời nói, quả thật, đó là một bế tắc rất trầm trọng. Mỗi tuần, các chị tôi ở Mỹ gọi điện thoại sang thăm hỏi sức khỏe của mẹ. Họ buồn lắm vì không còn nghe được tiếng nói của mẹ, dù chỉ là lắp bắp không gẫy gọn. Các chị tôi hay khóc, còn tôi thì cố ngăn nước mắt, làm thông dịch viên cho mẹ. Tôi mở cái loa, nhưng vẫn đưa ống nghe đặt kề bên tai của mẹ. Tôi luôn miệng nhắc nhở, nếu mẹ nghe và hiểu được, thì đập cái cái xúc xắc xuống bàn để các chị mừng. Mỗi lần gác điện thoại xuống, lòng tôi tan nát thêm vì khả năng trả lời của mẹ bằng cái xúc xắc mỗi ngày một ít dần đi. Giữa giai đoạn khốn khó nhất trong đời sống của tôi, mẹ bị bệnh lẫn, người thân trong nhà, không một ai hiểu được tại sao tôi lại ghi danh học thêm. Tôi không giải thích, chỉ vừa làm, vừa học, vừa lo cho mẹ và em. Tôi muốn làm tròn ước mơ của mẹ trong cuộc đời này. Tôi đi học thêm, hy vọng sẽ có câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên khi mẹ tôi vừa đặt chân lên mảnh đất này và gặp lại các con ở phi trường: “Đã hơn mười năm qua rồi, thế đã có đứa nào học hành, tốt nghiệp, đỗ đạt được bằng cấp gì thì cho mẹ biết.” Chị em chúng tôi im lặng, lấm lét nhìn nhau, không nói nên lời, dù đã có sẵn câu trả lời trong đầu: “Thưa mẹ, dạ có bằng lái xe số 5!”
bài thơ nhớ về quê hương, thật dễ dàng như người lấy khăn tay trong túi áo. Khi tiễn bạn của bà ở phi trường, mẹ tôi đã ứng khẩu thành thơ để tặng cho người đi trong giây phút biệt ly ấy và làm cho người ta khóc. Tôi đã được nghe nhiều bạn của bà nói lại chuyện này. Các bạn của tôi cũng thích ghé lại chơi để được mẹ tôi ưu ái mời ăn hột điều, uống trà, và nghe bà đọc thơ lấy từ trong đầu ra. Những vần thơ mộc mạc, gần gũi như ca dao, tục ngữ. Chỉ tiếc một điều là mẹ tôi không bao giờ chịu viết lại. Nhiều lần tôi nhắc mẹ cứ viết xuống giấy trước, khi rảnh, tôi sẽ đánh máy, và in thành sách. Mẹ tôi lắc đầu, không chịu viết xuống, vì có mặc cảm ít học, chữ viết to và xấu xí. Bà rất ngại để lại bút tích. Bà sợ bạn hữu có đủ bằng chứng để chê cười về sự dốt nát, ít học của bà. Vì vậy, mẹ tôi hay đánh trống lảng: “Khi nào con rảnh, mẹ sẽ đọc để con đánh máy hộ mẹ.” Rất tiếc, cái ngày “mẹ sẽ đọc để con đánh máy hộ mẹ”, sẽ không bao giờ đến nữa, vì mẹ tôi đã vĩnh viễn mất đi khả năng phát âm rồi! Sau năm năm, khi bệnh lẫn của mẹ từ từ nặng hơn, khi đôi bàn tay không còn viết được nữa, khi tiếng nói hoàn toàn mất hẳn, thì thế giới của mẹ tôi đã thật sự đóng kín lại rồi. Mỗi lần anh chị và các cháu ở Mỹ hay bạn hữu đến thăm, họ rất muốn an ủi mẹ tôi bằng cách đọc lại những bài thơ của mẹ làm trước kia cho bà nghe. Họ hỏi tôi có ghi lại những bài thơ ấy không, thì tôi chỉ biết lắc đầu!
bạn hữu vì những bài thơ mẹ làm, nhưng không có một phản ứng thực tiễn nào cả. Tôi mắc phải một lầm lẫn rất lớn, đã tin rằng, chỉ có những người học thức cao mới có đủ khả năng diễn đạt lòng ái quốc của họ qua văn thơ và được lưu giữ trong tủ sách văn học mà thôi. Tôi đã nghĩ, mẹ của tôi chỉ là một người đàn bà bình thường, hết lòng chăm lo cho chồng con, và giúp đỡ những người khốn khó chung quanh. Tôi thật đã không nghĩ mẹ của tôi cũng là một người yêu nước. Vì vậy, tôi đã thật hờ hững với những bài thơ gói ghém nỗi lòng của mẹ. Tôi đã không xem đó là những thi phẩm vô giá, ghi lại một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam, qua tâm tư của một người đàn bà ít học. Trong mười năm ấy, tôi đã sống bên cạnh mẹ, nhưng chưa một lần dành năm, mười phút hay nửa tiếng đồng hồ trong ngày cuối tuần để giúp mẹ tôi ghi lại những bài thơ của bà. Tôi đã ngồi cạnh mẹ hàng giờ để xem một băng nhạc hay một bộ phim. Tôi cần được thư giãn tinh thần sau những giờ làm việc mệt mỏi ở sở. Tôi có hàng trăm lý do để cho tôi thời gian sống theo ý tôi muốn của mình. Tôi đã nghĩ, tôi là người đứng ra bảo lãnh, có bổn phận, và trách nhiệm nặng nề với gia đình này; cho nên tôi có quyền sống cho riêng mình một chút. Cho đến ngày, khi mẹ tôi không còn nói được một lời nào nữa, thì tôi bắt đầu thức tỉnh...!
Sau gần sáu năm mẹ tôi bị lẫn, trong ngày lễ Hiền Mẫu năm ấy, tôi đã đặt vào đôi bàn tay xương xẩu của bà quyển luận án màu đỏ nhỏ nhắn, với dòng chữ in đậm nét ở trang đầu: “Cho người mẹ đã lẫn của con, dù bây giờ mẹ không còn nhớ đến ước mơ của mẹ trong cuộc đời này.” Sau buổi lễ tốt nghiệp năm ấy, tôi đã năn nỉ để được mượn chiếc áo đen, thêm một ngày, đem về nhà và mặc lại cho mẹ tôi xem. Tôi đã quàng giải lụa đỏ lên đôi vai gầy guộc và đội chiếc mũ đen tốt nghiệp của mình lên đầu cho mẹ. Mẹ ngước mắt, bình thản nhìn tôi. Vẫn ánh mắt hiền hòa như mỗi ngày và không có một dấu hiệu, dù rất nhỏ, nhận thức được sự khác biệt qua hành động của tôi ngày hôm ấy. Nước mắt tôi ứa ra và thầm nói trong đầu: “Xin lỗi mẹ, con đã mang về nhà câu trả lời cho ước mơ của mẹ quá muộn màng.” Và trong ngày lễ Hiền Mẫu năm nay, sau gần chín năm khối óc nhạy bén của mẹ tôi không còn hoạt động bình thường, tôi viết lại những dòng chữ này như một lời thú tội, để làm quà, và cũng để thay thế cho ngàn lời xin lỗi mẹ. Đây là những gì tôi đã chôn kín trong đáy lòng từ nhiều năm qua. Tim tôi quặn thắt.
tuổi, không biết tiếng Anh, sống xa quê hương, anh em ruột thịt, bạn hữu, láng giềng. Tôi đã chỉ biết cắm đầu làm việc, để mang về nhà đồng lương vừa đủ trang trải cho mọi chi phí trong gia đình, đồng thời cố gắng gom góp trả dứt nợ ngân hàng cho một căn nhà nhỏ. Tôi đã không dành thời gian để chia sẻ với mẹ những u uất chất chứa trong lòng của bà. Mỗi khi mẹ tôi lân la lại gần để tâm sự, tôi đã tìm đủ mọi cách để thối thác, lấy cớ rất bận, mong mẹ thông cảm, đợi đến hôm khác hãy nói. Tôi cứ nghĩ là người già rảnh rỗi thì thích nói chuyện đời xưa, chuyện dĩ vãng huy hoàng của một thời son trẻ. Tôi đã thật ngu ngốc không biết đó là những dấu hiệu khởi đầu của chứng Alzheimer. Bây giờ nghĩ lại, tôi thật xấu hổ vì nghĩ đến bốn chữ ‘Người con có hiếu’ mà những người quen biết, trong đó có cả anh, đã vô cùng hâm mộ và ưu ái gửi tặng cho tôi. Anh ạ, tôi chấp nhận, một phần nào, sự kiện mẹ tôi mất dần trí nhớ, vì cuộc đời của bà có nhiều chông gai quá. Mẹ tôi đã hy sinh rất nhiều cho gia đình, bên cạnh bố tôi, đau yếu quanh năm. Ngoài ra, mẹ tôi còn có những mất mát đáng kể khác trong đời. Hai lần mất nước, vào chính tay của người cùng chủng tộc, là hai lần mẹ tôi mất tất cả cơ nghiệp của bà. Lần đầu, sau trận đánh ở Điện Biên Phủ 1954, chia đôi đất nước, mẹ phải xa bà ngoại và anh chị em, bỏ lại tất cả tài sản ở miền Bắc, đi theo chồng, đem các con chạy trốn vào Nam. Lần thứ hai, sau ngày 30-04-1975, một lần nữa, mẹ tôi mất tất cả sự nghiệp mà bà đã phải khó khăn lắm mới gầy dựng lại được ở miền Nam.
Bây giờ thì anh đã biết rõ lý do tôi nuối tiếc, có phải không? Tôi tưởng tôi là người tốt, đã làm được nhiều điều khiến người ta hâm mộ. Nhưng nghĩ lại cho cùng, thực sự, tôi chỉ là một người ích kỷ, đã khéo léo giấu mình thật kín sau chữ ‘hiếu’ thật to. Tôi thấy chán ghét chính bản thân mình. Quả thật, tôi đã không có thiện chí giúp mẹ ghi lại những bài thơ gói ghém nỗi lòng thương nhớ quê nhà của người đàn bà tị nạn, lớn tuổi, và ít học – để lại cho đời – trước khi mẹ tôi bị lẫn. Anh ạ, khối óc của mẹ tôi đã đóng chặt lại rồi. Khối óc ấy đã từng là biển cả của tình thương, trách nhiệm, bồn phận, hy sinh vô bờ bến mà cả đời mẹ tôi đã dành cho gia đình, cho đồng bào ruột thịt, và cho xứ sở của bà. Khối óc tầm thường của người đàn bà ít học ấy đã thực sự chôn chặt tất cả những kỷ niệm vui buồn, những thương đau nổi trôi theo vận nước, qua những bài thơ chân thật nhất của mẹ tôi viết về quê hương bỏ lại sau lưng của bà. Chiếc chìa khóa vô hình và duy nhất có thể mở được cái kho tàng quý giá ấy là chữ viết và ngôn ngữ của mẹ tôi đã bị chứng Alzheimer và tai biến mạch máu não hủy hoại mất rồi.
Lời cuối, tôi hy vọng rằng, anh sẽ không phải sống trong nuối tiếc như tôi đang sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời này... Thân kính, Sau một ngày bị cảm nhẹ, mẹ tôi đã xuôi tay tại nhà 25 phút vì nhồi máu cơ tim… 25-08-2014 là đúng ba năm mẹ tôi xa lià các con của bà sau 10 năm sống với chứng Alzheimer.
|
Mới các anh chị bấm vào link dưới đây để xem TuỳBút này dưới dạng YouTube:
Tùy bút NUỐI TIẾC... Nhạc đệm SERENADE - Schubert